Dai hoc Su pham Tp.HCM - HCMC University of Pedagogy
 
Trợ giúp Webmail
   Giới thiệu    Tin tức    Tuyển sinh    Đào tạo    Nghiên cứu    Hợp tác    Hành chính    Sinh viên    Thư viện  
    
ĐĂNG NHẬP
TIN MỚI NHẤT
 Tin hoạt động: Hướng dẫn thực hiện công tác HS,SV năm học 2008 - 2009
 Tin hoạt động: Trường ĐHSP TP.HCM tổ chức Lễ kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam
 Tin hoạt động: Khoa Toán – Tin học đón nhận Huân chương Lao động hạng III
 Tin hoạt động: Khoa Lịch sử tổ chức Hội thi Nghiệp vụ Sư phạm năm 2008
 Tin hoạt động: Thầy Trần Văn Tấn được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân
 Tin hoạt động: Lễ Tốt nghiệp và phát bằng đại học cho SV ngành Giáo dục Tiểu học hệ chuyên tu
 Lịch công tác tuần: Từ 17/11 đến 21/11/2008
 Lịch công tác tuần: Từ 17/11 đến 21/11/2008
 Lịch công tác tuần: Từ 17/11 đến 21/11/2008
 Tin công đoàn: Kết quả Hội thao chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20.11

Tổng quan:
Tự đánh giá - tiêu chuẩn 9



TIÊU CHUẨN 9: Thư viỆN, TRANG THIẾT BỊ HỌC TẬP VÀ CƠ SỞ VẬT CHẤT KHÁC

Trường ĐHSP TpHCM đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất như thư viện, phòng thí nghiệm, thực hành và các trang thiết bị cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học cũng như các hoạt động khác nhằm đạt được sứ mạng, mục tiêu của mình.

Trường có thư viện với các phòng đọc dành cho sinh viên, cho cán bộ, giảng viên, phòng nghe nhìn, phòng Internet, kho sách, báo, tạp chí phục vụ nhu cầu của độc giả. Thư viện đã được tin học hóa và có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp. Hiện nay Thư viện Trường đã thực hiện việc cung cấp dịch vụ tra cứu trực tuyến qua web. Thư viện trường cũng là thành viên Hiệp hội Thư viện phía Nam, cam kết chia sẻ với các trường trong Hiệp hội nguồn lực thông tin của thư viện và tham gia dự án “hệ thống thông tin thư viện điện tử liên kết các trường đại học”.

Hệ thống phòng thí nghiệm thực hành của Trường đáp ứng được nhu cầu cơ bản về thiết bị và vật tư thí nghiệm, phục vụ cho công tác dạy-học của giảng viên, sinh viên. Trường ĐHSP TpHCM đã từng bước đầu tư trang thiết bị dạy và học. Đến nay, các trang thiết bị phục vụ đào tạo của trường khá đa dạng và góp phần khuyến khích giảng viên đổi mới trong phương pháp giảng dạy. Trường được trang bị một hệ thống máy tính kết nối mạng nội bộ và mạng Internet, tạo điều kiện cho công tác quản lý, dạy-học và nghiên cứu khoa học.

Trường hiện đang thực hiện đề án quy hoạch tổng thể đến năm 2015, trong đó đã đưa ra những kế hoạch cụ thể về việc mở rộng diện tích, xây dựng lại các khu nhà học và làm việc, ký túc xá, phòng thí nghiệm, thực hành và phân bổ sử dụng cơ sở vật chất cho các đơn vị trong trường. Trường có bộ phận chuyên trách bảo vệ, được được định kì bồi dưỡng nghiệp vụ. Tài sản của trường được bảo vệ tốt, đảm bảo an toàn trong khuôn viên Trường và rất hiếm khi xảy ra mất mát lớn.

Tiêu chí 9.1: Thư viện

1. Mô tả:

Thư viện Trường ĐHSP TPHCM gồm hai cơ sở: cơ sở 1 đặt tại 280 An Dương Vương, quận 5 và cơ sở 2 ở 222 Lê Văn Sỹ, quận 3 [9.1.1]. Trong 10 năm gần đây, cơ sở vật chất của thư viện được Trường đầu tư thông qua các dự án “nâng cấp thư viện” năm 1998 và tiểu dự án “Giáo dục Đại học” từ năm 2001-2004. Thư viện với cơ cấu phòng đọc sinh viên, phòng đọc dành cho cán bộ giảng viên, phòng nghe nhìn, phòng internet, phòng xử lý thông tin, phòng kỹ thuật và kho sách, báo, tạp chí đã đáp ứng được nhu cầu của việc dạy-học, nghiên cứu của giảng viên, cán bộ và người học [9.1.2]. Tổng số đầu sách theo chuyên ngành cho đến hiện nay (2005) của thư viện là 47.891. Số đầu sách trung bình tính theo ngành đào tạo (31 ngành) là 1545 đầu sách/ngành đào tạo [9.1.3]. Thư viện còn đặt mua báo và tạp chí các loại phục vụ cho nhu cầu của độc giả [9.1.4].

Thư viện đã được tin học hóa hầu hết các khâu trong công tác nghiệp vụ, trong việc quản lý tài liệu và độc giả bằng phương pháp mã vạch. Thư viện có website và cung cấp dịch vụ tra cứu qua mạng internet. Thư viện có các văn bản hướng dẫn cách sử dụng hệ thống tra cứu tìm tài liệu và các hướng dẫn này đã được đăng tải trên trang web rõ ràng và cụ thể [9.1.5]. Thư viện có phân công nhân viên thường trực để hỗ trợ độc giả tra cứu, khai thác tài liệu [9.1.9]. Hiện tại, thư viện có 42 giáo trình điện tử online và các cơ sở dữ liệu trên CD ROM [9.1.6]. Thư viện trường tham gia dự án “hệ thống thông tin thư viện điện tử liên kết các trường đại học”và Liên hiệp thư viện các trường đại học khu vực phía Nam” [9.1.7]. Những năm gần đây, thư viện đã bổ sung được một số cán bộ trẻ có trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học đáp ứng tương đối kịp thời sự phát triển của thư viên. Ngoài ra, cán bộ của thư viện được đào tạo, tập huấn các lớp dài, ngắn hạn [9.1.8].

Để tạo điều kiện thuận lợi cho người đọc, thư viện thiết lập hệ thống kho sách theo mô hình “kho mở” và sử dụng các phương tiện tự động hóa như tra cứu thư mục bằng máy vi tính, thủ tục mượn, trả bằng quét mã vạch… tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng. Thư viện cũng mở rộng thời gian phục vụ vào các buổi trưa (cơ sở 1) và buổi tối, ngày thứ 7 (cơ sở 2) vào mùa thi để sinh viên có nhiều thời gian tra cứu hơn [9.1.10]. Thư viện có mở các lớp bồi dưỡng cho sinh viên năm nhất và cán bộ, giảng viên kỹ thuật tra cứu, khai thác tài liệu trong thư viện [9.1.11].

Thư viện có một đội ngũ nhân viên được đào tạo bài bản gồm 22 người trong đó có 18 người tốt nghiệp chuyên ngành thư viện [9.1.12]. Nhân viên thư viện thường xuyên được bồi dưỡng về công tác chuyên môn, nghiệp vụ. Thư viện có biện pháp khuyến khích người đọc bằng cách hàng năm tổ chức hội nghị độc giả, tổ chức đối thoại giữa thư viện và độc giả, khen thưởng độc giả tích cực…[9.1.12]. Ngoài ra, từ năm 2001, thư viện được đầu tư đồng bộ hơn và cơ sở vật chất của thư việc được nâng cấp hơn, vì vậy số bạn đọc thư viện tăng liên tục mỗi năm từ 7-51% [1]trong 5 năm trở lại đây [9.1.13]. Ngoài ra, để không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, bắt đầu từ năm 2003 và trong thời gian Trường thực hiện tự đánh giá thư viện đã làm khảo sát ý kiến độc giả [9.1.13].

2. Mặt mạnh:

- Thư viện được tin học hóa và cung cấp nhiều dịch vụ để tạo điều kiện thuận lợi cho người đọc.

- Đội ngũ nhân viên thư viện chuyên nghiệp, có trình độ và được đào tạo bài bản và có nhiều biện pháp khuyến khích độc giả đến thư viện.

3. Tồn tại:

Kinh phí phân bổ cho thư viện chưa nhiều (460 triệu - khoảng 1% tổng kinh phí hoạt động thường xuyên của Trường) nên việc bổ sung tài liệu chuyên môn, tạp chí nước ngoài và cơ sở dữ liệu điện tử mới còn rất hạn chế. Cơ sở vật chất (mặt bằng và máy tính) chưa đáp ứng nhu cầu hiện nay và xu hướng phát triển của thư viện. Vì thế thư viên chưa đáp ứng được nhiều yêu cầu của độc giả. Qua các khảo sát, sự hài lòng của sinh viên của sinh viên đối với nhân viên thư viện không cao do những hạn chế về số lượng sách chuyên môn và mặt bằng.

4. Kế hoạch hành động:

- Hướng phát triển trong Quy hoạch phát triển tổng thể Trường ĐHSP TpHCM trọng điểm đến năm 2015 là xây dựng thư viện trở thành trung tâm thông tin, có diện tích khoảng 8.300m2 với sức chứa khoảng 2.000 bạn đọc. Trong năm học 2006-2007, thư viện hướng đến việc chuyển sang mô hình thư viện điện tử, mua các tài liệu online hơn là mua sách và phát triển cũng như tận dụng các tài liệu CD-ROM và tận dụng các kho mở của MIT và IBM. Ngoài ra, trong năm học tới, thư viện sẽ xin tham gia vào Liên hợp Thư viện về Nguồn tin Điện tử nhằm có thể chia sẻ 02 cơ sở dữ liệu EPCP và BLACKWELL.

- Cải tiến thái độ phục vụ của nhân viên thư viện trên cơ sở định kỳ hàng năm lấy ý kiến phản hồi của sinh viên và cán bộ giảng dạy.

Tự đánh giá: mức 2

Tiêu chí 9.2: Phòng thí nghiệm, thực hành

1. Mô tả:

Hiện nay trường có 54 phòng thí nghiệm và thực hành. [9.2.1] (Trong đó, các ngành tự nhiên có 32 phòng, các ngành khoa học xã hội có 3 phòng, các ngành ngoại ngữ, Tổ Ngoại ngữ không chuyên và Trung tâm ngoại ngữ - có 14 phòng, các khoa giáo dục chuyên biệt có 6 phòng, Trường trung học thực hành của Trường có 2 phòng phục vụ cho thực tập sư phạm) [9.2.2]. Tổng diện tích của các phòng thí nghiệm và thực hành là 2178 m2 [9.2.3]. Những khoa và bộ môn còn lại chia sẻ các phòng thực hành của Trung tâm Tin học và của các đơn vị khác [9.2.4]. Nhìn chung, với cơ sở hiện có, các phòng thí nghiệm thực hành của trường đáp ứng được yêu cầu cơ bản của từng ngành đào tạo [9.2.5].

Các phòng thực hành và thí nghiệm của các ngành đều được trang bị thiết bị khá đầy đủ phục vụ cho đào tạo. Các bài thí nghiệm được xây dựng riêng cho từng môn học. Các thí nghiệm ảo cũng được thiết kế nhằm phục vụ cho công tác thực hành và thí nghiệm. Cụ thể có các trang thiết bị sau đây của từng ngành đào tạo: 1) các thiết bị cho phòng thí nghiệm lý [9.2.7]; 2) Các trang thiết bị cho ngành hoá [9.2.8]; 3) Các trang thiết bị cho ngành sinh [9.2.9]; 4) Các trang thiết bị dành cho Trung tâm tin học [9.2.10]; 5) Các trang thiết bị dành cho các ngành khác như xã hội, ngoại ngữ, phòng chuyên ngành sư phạm, nghiên cứu khoa học…Ngoài các trang thiết bị trong các phòng thí nghiệm kể trên, Trường còn có phòng Hóa Tin có đầy đủ các trang thiết bị cần thiết dành cho nghiên cứu khoa học. Trung bình, hàng năm Trường dành 10% kinh phí cho việc mua sắm trang thiết bị mới theo yêu cầu đào tạo. Nhìn chung, các trang thiết bị của các phòng thực hành, thí nghiệm của Trường là đa dạng và có chất lượng. Việc đánh giá chất lượng của các phòng thí nghiệm được tiến hành ngay sau khi nhận bàn giao và định kỳ kiểm tra hàng năm [9.2.11]. Ngoài ra, Trường cố gắng tăng tần suất sử dụng các phòng thực hành và thí nghiệm hợp lý [9.2.12].

2. Mặt mạnh:

Trường có đủ các phòng thí nghiệm cho các ngành đào tạo. Chất lượng của các trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm là cao theo yêu cầu của các giảng viên sử dụng các phòng thí nghiệm.

3. Tồn tại:

- Mặt bằng các phòng thí nghiệm thực hành còn thiếu diện tich, chưa đạt chuẩn của Bộ (theo kế hoạch phát triển giáo dục đến năm 2010).

- Chưa có phòng thí nghiệm dành riêng cho cán bộ và học viên cao học nghiên cứu khoa học. Trường chỉ có một phòng thí nghiệm Hóa Tin dành cho cán bộ nghiên cứu khoa học, số còn lại phải sử dụng chung phòng thí nghiệm với sinh viên. Còn có một số thiết bị thí nghiệm quá cũ và lạc hậu được sử dụng từ trước năm 1975 đến nay.

4. Kế hoạch hành động:

Trường đã có Quy hoạch phát triển tổng thể Trường ĐHSP TpHCM trọng điểm đến năm 2015 nhằm xây dựng thêm các cơ sở thực hành của trường gồm các trường phổ thông thực hành, các vườn sinh học, cơ sở nghiên cứu động vật biển, các phòng thực hành mới. Các trạm trại sẽ được bố trí xa trường, nơi có điều kiện thuận lợi nhất cho việc thực tập, thực hành thí nghiệm của các khoa Sinh, Địa Lý… đồng thời xây dựng các xưởng thực hành cho SV khoa Vật lý, Hóa học, phòng đo đếm phóng xạ cho khoa Lý.

Tự đánh giá: mức 2

Tiêu chí 9.3: Trang thiết bị

1. Mô tả:

Trang thiết bị và các phương tiện học tập, giảng dạy nghiên cứu hiện tại có khả năng đáp ứng các yêu cầu tối thiểu của các ngành đào tạo. Trong những năm gần đây trường có các dự án nâng cấp trang thiết bị nên đã trang bị mới cho các khoa, Viện NCGD [9.3.1]. Trường có 45 máy chiếu (projector), trung bình mỗi đơn vị 1 máy, số còn lại dành cho các phòng họp và học, hội trường và các phòng ban [9.3.2]. Qua khảo sát trong đợt tự đánh giá tháng 4/2006, có thể khẳng định là các trang thiết bị đáp ứng được nhu cầu sử dụng của các ngành đào tạo [9.3.3], không có nhiều trường hợp yêu cầu của các khoa không được Trường đáp ứng.

Các trang thiết bị của Trường khá đa dạng [9.3.4]. Trường còn có các máy chiếu âm bản, máy chiếu đa năng (LCD projector). Trường có 16 phòng học được trang bị máy chiếu cố định, 02 phòng giảng đa chức năng (các phòng có đầy đủ máy chiếu và các máy móc khác phục vụ giảng dạy: chiếu vật thể, camera để ghi hình, bảng từ, các thiết bị về âm thanh) và 01 phòng đôi (01 quan sát thông qua camera và 01 phòng quan sát trực tiếp). Tất cả các phòng này góp phần thúc đẩy phong trào đổi mới phương pháp giảng dạy trong giảng viên [9.2.5]. Các thiết bị phòng thí nghiệm thực hành khá đa dạng, các khoa đã có các quy định thuận tiện cho giáo viên và học viên khai thác trang thiết bị (thiết bị có các văn bản hướng dẫn sử dụng cùng nhân viên hướng dẫn trực tiếp) [9.3.6].

Chất lượng các trang thiết bị (theo biên bản nghiệm thu) đáp ứng được yêu cầu mua sắm của các đơn vị. Hầu hết các trang thiết bị của Trường được đánh giá là chất lượng cao [9.3.7]. Kinh phí mua sắm thiết bị dạy học và thí nghiệm tăng nhanh trong nhiều năm qua: Năm 2001- 3,5 tỷ đồng, năm 2002 - 4 tỷ đồng, năm 2003 - 3,9 tỷ đồng, năm 2004 - 5,8 tỷ đồng, năm 2005 - 4,9 tỷ đồng [9.3.8].

2. Mặt mạnh:

Trường có sự đầu tư thích đáng nâng cấp trang thiết bị, tạo điều kiện cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Chất lượng các trang thiết bị phục vụ cho các hoạt động dạy, học và nghiên cứu khoa học tốt.

3. Tồn tại:

Ở một số phòng học, các trang thiết bị còn thiếu. Hiệu suất sử dụng trang thiết bị chưa cao, chưa có kế hoạch đánh giá hiệu quả sử dụng các trang thiết bị dạy học và hiệu quả khai thác và sử dụng trang thiết bị. Thông tin hướng dẫn để mượn trang thiết bị còn thiếu. Các đơn vị được đầu tư theo yêu cầu nhưng tần suất sử dụng còn thấp. Ngoài ra, mặc dù Trường có thực hiện các khảo sát nhu cầu nhưng chưa theo dõi và giám sát chặt chẽ.

4. Kế hoạch hành động:

- Từ nay đến năm 2010, hàng năm Trường sẽ tiếp tục thực hiện việc phân bổ nguồn kinh phí cấp cho cơ sở vật chất (10%) cho việc mua sắm các trang thiết bị dạy, học, nghiên cứu; xây dựng trang thiết bị nghiên cứu khoa học cho các khoa tự nhiên; trang bị các thiết bị giảng dạy hiện đại cho các giảng đường (thiết bị multimedia hiện đại); trang bị các thiết bị thích hợp cho phòng giảng tập.

- Bắt đầu từ năm 2006-2007, trường sẽ tổ chức đánh giá định kỳ về hiệu quả sử dụng thiết bị cấp trường và cấp cơ sở.

Tự đánh giá: mức 2

Tiêu chí 9.4: Cung cấp đầy đủ thiết bị tin học để hỗ trợ các hoạt động dạy- học, nghiên cứu khoa học, công tác quản lí và điều hành.

1. Mô tả:

Tính đến nay, toàn Trường có tất cả 972 máy tính, trong đó có 927 máy để bàn và 45 máy xách tay [9.4.1]. Mỗi đơn vị được trang bị một máy tính xách tay, số còn lại được bố trí ở phòng Quản trị thiết bị để phục vụ các nhu cầu đào tạo và công tác của cán bộ. Số lượng máy tính để bàn có ở các khoa phục vụ cho việc dạy-học, tra cứu là 754. Cụ thể là: khoa Toán – Tin có 250 máy (bình quân sinh viên chuyên tin – mỗi người một máy, các đơn vị khác khoảng 9 SV/máy), Trung tâm Tin học có 180 máy, Thư viện có 89 máy, Viện NCGD có 82 máy, còn lại trung bình mỗi khoa khoảng 25 máy [9.4.2]. Số lượng máy tính ở văn phòng các đơn vị phục vụ công tác quản lý là 173. Số liệu trên cho thấy số máy tính hiện có của trường đủ để phục vụ cho giảng viên và người học trong giảng dạy – học tập, nghiên cứu khoa học và quản lý. Tần suất sử dụng các phòng máy tính của Trường rất cao [9.4.3].

Hệ thống máy tính được kết nối mạng nội bộ và Internet [9.4.2]. Trường có hệ thống máy chủ tốt, sử dụng đường truyền mạnh, các phầm mềm đang sử dụng đa dạng và bộ phận quản trị mạng chuyên nghiệp. Hiện nay Trung tâm Tin học chịu trách nhiệm đảm bảo về mặt công nghệ thông tin, hệ thống máy tính của trường (đường truyền và máy chủ), website. Việc lắp đặt và thuê bao đường truyền ADSL, kết nối mạng nội bộ đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, việc truy cập thông tin của giảng viên và sinh viên. Với đường truyền hiện nay, các giảng viên, học viên đã có thể sử dụng máy tính để khai thác tài liệu trên mạng, soạn các trang trình chiếu, làm tiểu luận và bài tập lớn [9.4.4]. Công việc quản lý của Trường cũng được tin học hóa bằng các phần mềm quản lý chuyên dụng như: phần mềm kế toán, phần mềm quản lý nhân sự, phần mềm quản lý thư viện, phần mềm quản lý sinh viên … [9.4.5]. Tuy nhiên, có một giai đoạn hệ thống quản lý đường truyền có sự thay đổi về bộ phận chịu trách nhiệm chính nên qua khảo sát trong tháng 4/2006, sự hài lòng đối với chất lượng Intenet của Trường chỉ chiếm khoảng 30% số người trả lời [9.4.6].

2. Mặt mạnh:

Trường có đủ máy tính phục vụ cho nhu cầu giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Các hoạt động của trường từng bước được tin học hóa, theo kịp với những đòi hỏi thay đổi trong thời đại công nghệ thông tin. Trường có hệ thống máy chủ tốt, sử dụng đường truyền mạnh, các phầm mềm đang sử dụng đa dạng và bộ phận quản trị mạng chuyên nghiệp.

3. Tồn tại:

- Số lượng các phòng học được nối mạng còn ít.

- Chất lượng của đường truyền Internet còn bị nhiều ý kiến phàn nàn từ người sử dụng. Ngoài ra, thông tin của Trường còn chưa được cập nhật thường xuyên trên mạng.

4. Kế hoạch hành động:

- Xây dựng các phòng máy kết nối internet cho sinh viên tự học và tăng cường hệ thống thông tin nhằm đảm bảo cho việc học, giảng dạy, nghiên cứu và quản lý.

- Ngay trong quí IV năm 2006, Trường sẽ ban hành Quy chế quản trị mạng mới, xây dựng cơ chế đưa thông tin lên website. Có kế hoạch đưa tất cả các thông tin, thông báo lên mạng để nâng cao hiệu quả sự dụng công nghệ thông tin, giảm thiểu thông tin giấy tờ. Tăng dung lượng đường truyền bằng cách mắc thêm các đường ADSL cho một số đơn vị có yêu cầu.

- Mua các phần mềm chuyên dụng (Mable, Microsoft window, Crocodile…) và phần mềm quản lý hệ thống chung cho toàn trường.

Tự đánh giá: mức 2

Tiêu chí 9.5: Có đủ diện tích lớp học theo qui định cho việc dạy và học. Có ký túc xá cho người học và sân bãi cho các hoạt động văn hoá, thể thao.

1. Mô tả:

Trường có 154 phòng học [9.5.1]]. Tổng diện tích phòng học của trường là 8405 m2 [9.5.2]. Số phòng học của Trường từ năm 2000 đến nay đã tăng từ 113 phòng lên đến 161 phòng [9.5.2], nhìn chung đáp ứng được nhu cầu đào tạo của Trường. Tuy nhiên, có những thời điểm do đang xây mới các khu nhà tại khu vực chính (280 An Dương Vương), Trường phải thuê thêm phòng học bên ngoài (thuê Trường Dân lập Sư Vạn Hạnh – 25 phòng và Trường Lương Thế Vinh: 500 m2) [9.5.3]. Hiện nay, Trường đã đưa vào sử dụng dãy nhà C với diện tích khá lớn [9.5.4]. Diện tích lớp học của Trường/sinh viên là 0.95 m2/SV [9.5.5].

Trường có một Ký túc xá diện tích 0,86ha. Ký túc xá của Trường hiện nay đáp ứng được nhu cầu ở nội trú của 1800 sinh viên/8863 sinh viên chính qui của Trường (0,96m2/sv) chiếm tỷ lệ 20.3 % SV ở Ký túc xá. Ký túc xá có phòng đọc và thư viện phục vụ cho sinh viên. Ký túc xá có 5 toà nhà và 250 phòng ở khép kín, sinh viên tự quản chỗ ở của mình. Ký túc xá có sân bóng chuyền và sân bóng đá mini… Hàng năm Ký túc xá được đánh giá là ký túc xá tốt tại thành phố, được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, của UBND thành phố Hồ Chí Minh. Trường có một nhà tập đa năng với diện tích 896m2 và nhà chơi bóng bàn 128m2 [9.5.1]. Ngoài ra, Trường còn thuê các sân tập dành cho khoa Giáo dục Thể chất như Sân Vận động Thống nhất, Quân khu 7 và sân thể thao của Trung tâm thể thao các quận, sân tập quân sự ở Câu lạc bộ Hàng không. Việc thuê mướn bên ngoài xuất phát từ nhu cầu nâng cao tính chuyên nghiệp của môn học cho đúng tiêu chuẩn. Hiện nay, các sinh hoạt văn hóa được diễn ra chủ yếu ở các hội trường và giảng đường lớn (ký túc xá còn có nhà sinh hoạt chung). Với sự đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị và hệ thống ánh sáng, âm thanh khá tốt, phong trào văn hoá, thể dục thể thao của sinh viên diễn ra rất tốt và có nhiều thành tích đáng kể.

2. Mặt mạnh:

- Các phòng học được trang bị tốt và đúng chuẩn về ánh sáng và độ yên tĩnh.

- Ký túc xá có chất lượng tốt và được đánh giá cao.

- Nhà thi đấu thể thao có chất lượng tốt đảm bảo cho các cuộc thi lớn cấp quốc gia.

3. Tồn tại:

- Diện tích dành cho học tập và nội trú và các sinh hoạt văn hóa, hoạt động thể thao còn thiếu so với số lượng sinh viên chính quy hiện có. Ngoài khu nhà C mới xây dựng, quy mô các lớp học chưa đáp ứng được yêu cầu của từng chuyên ngành đào tạo, cách tổ chức phòng học khá phân tán (ở hai cơ sở), không phù hợp với quy mô của trường đại học sư phạm trọng điểm. Ở cơ sở 1, các phòng thí nghiệm, phòng học còn xen kẽ với trường ĐH KHTN, ở cơ sở 2 khu vực lớp học còn xen lẫn khu ở của cán bộ.

- Nhiều phòng học đang xuống cấp vì đã xây dựng quá lâu, cần được tu bổ, cải tạo. Tỷ lệ bình quân diện tích học tập chưa đạt mức quy định hiện hành 0,96m2/sv (quy định là 1,5m2/sv – theo tiêu chuẩn Việt Nam).

- Ký túc xá của trường hiện chỉ đáp ứng được chưa tới 30% nhu cầu của sinh viên.

4. Kế hoạch hành động:

Theo định mức được ghi tại Nghị quyết của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới trường ĐH, CĐ giai đoạn 2001-2010, Trường đang làm Đề án xin Nhà nước phê duyệt đất ở Củ chi và kế hoạch xây dựng lại tại 280 An Dương Vương như sau:

- Xây dựng dãy nhà A: 6 tầng và một tầng hầm với 4 giảng đường 200 chỗ, 24 phòng học và 7 phòng hội thảo và nơi làm việc của một số phòng, khoa. Kế hoạch này đã được thực hiện.

- Xin đất thành lập cơ sở mới để đạt chuẩn diện tích học tập và phục vụ (chưa bao gồm cơ sở thực hành, thực nghiệm): 7m2/SV, diện tích ở và xây dựng ký túc xá mới phục vụ sinh viên: 3,8m2/SV; đất dành cho hoạt động TDTT và GDQP: 10m2/SV.

Tự đánh giá: mức 1

Tiêu chí 9.6: Có qui hoạch tổng thể về sử dụng và phát triển cơ sở vật chất của trường.

1. Mô tả:

Hiện nay, trường đã có đề án Quy hoạch Trường ĐHSP TpHCM tổng thể đến năm 2015 [9.6.1], trong đó có phân bổ sử dụng tới các đơn vị trong trường theo quy hoạch tổng thể chung, phục vụ giảng dạy và NCKH [9.6.2]. Đề án này đã đưa ra rõ ràng, cụ thể thực trạng và kế hoạch phát triển tổng thể cơ sở vật chất của trường. Đến nay, trường đang từng bước thực hiện theo đề án đó: năm 2001-2004 đầu tư xây dựng nhà C, năm 2005-2009 xây dựng nhà A [9.6.3]. Ngoài ra, trường đã có điều chỉnh kế hoạch sử dụng cơ sở vật chất để hỗ trợ có hiệu quả nhiệm vụ dạy-học, NCKH [9.6.3].

Đề án qui hoạch tổng thể của Trường được xây dựng từ năm 2002 trong đó bao gồm hai giai đoạn: trung hạn (đến 2010) và dài hạn (đến năm 2015). Giai đoạn đến 2015 được xây dựng, bổ sung và chỉnh sửa trên cơ sở đề án trung hạn (đến 2010) [9.6.4]. Các đề án này đã được bổ sung và chỉnh sửa [9.6.5] và đã được bảo vệ từ đầu năm 2006. Theo yêu cầu của Bộ, đề án đã được sửa lần cuối và đang chờ Bộ phê duyệt [9.6.6]. Bên cạnh đó, Trường cũng dự trù và xây dựng các kế hoạch hàng năm của mình bằng cách đưa ra các dự toán về kinh phí dự phòng [9.6.7].

2. Mặt mạnh:

Trường đã xây dựng được đề án phát triển quy hoạch tổng thể và đang tiến hành thực hiện.

3. Tồn tại:

Trường chưa chủ động được trong vấn đề kinh phí, phải chờ sự phê duyệt của cấp trên nên Đề án chưa được thực hiện và triển khai dù ở cấp độ nhỏ. Hiện nay, tỉ lệ kinh phí dành cho cơ sở vật chất của Trường là 10%, tuy nhiên, kinh phí này chủ yếu dành cho mua sắm thiết bị, sửa chữa nhỏ, tỷ lệ dành cho xây dựng cơ bản là rất thấp.

4. Kế hoạch hành động:

Trường sẽ có kế hoạch chuyển đổi và tăng cường hướng đầu tư cơ sở vật chất theo hướng điều chỉnh lại tỉ lệ sử dụng kinh phí nội bộ. Cụ thể, Trường sẽ dành khoảng 22 tỉ (trong 4 năm: 2006-2009) cho việc xây dựng dãy nhà A (bằng 27% tổng số vốn đầu từ nhà A).

Tự đánh giá: mức 2


Tiêu chí 9.7: Có biện pháp bảo vệ tài sản, trật tự, an toàn, an ninh cho cán bộ quản lí, giảng viên, nhân viên và người học.

1. Mô tả:

Trường có lực lượng chuyên trách bảo vệ cơ quan tại ba cơ sở [9.7.1], một đại đội tự vệ: 140 người (gồm 12 tiểu đội), trong đó có bốn tiểu đội là lực lượng thường xuyên có mặt tại cơ quan (41 người). Ngoài ra khi cần có thể huy động Đoàn viên Thanh niên là sinh viên [9.72]. Bên cạnh đó, Trường có khoa Giáo dục Quốc phòng có khả năng chỉ huy tác chiến đến cấp đại đội và tiểu đoàn [9.7.3]. Cùng với các đơn vị kể trên, Trường có đội ngũ bộ đội phục viên, xuất ngũ, chuyển ngành đông, là những người có trình độ kỹ thuật, chiến thuật, bản lĩnh có thể ứng phó, phối hợp tác chiến khi các tình huống xảy ra [9.7.4]. Hiện nay, lực lượng bảo vệ chuyên trách ở cơ sở An Dương Vương là 12 (riêng dãy nhà C có 4 người), ở cơ sở Lê Văn Sỹ là 6 và ở Ký túc xá là 7 người. Tổng nhân viên bảo vệ của Trường là 25 người, làm việc 24/24 giờ mỗi ngày [9.7.5].

Lực lượng chuyên trách bảo vệ của trường được định kì bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ [9.7.6] kết hợp chặt chẽ với các đơn vị công an địa phương và được cập nhật thường xuyên về tình hình an ninh, an toàn của địa phương nơi Trường trú đóng [9.7.7]. Trường còn có các kế hoạch chiến đấu, phương án đảm bảo trị an trong các trường hợp sau: bạo loạn – gây rối - biểu tình, trộm cắp tài sản, cháy nổ [9.7.8]. Trường có các văn bản quy định về phòng cháy chữa cháy, phương án chữa cháy tại chỗ [9.7.8]. Các phòng học, phòng thí nghiệm đều có trang bị phòng cháy chữa cháy …Trường nhận được chứng chỉ về phòng cháy chữa cháy do công an Thành phố[2]. Ngoài ra, trường còn thành lập đội phòng cháy chữa cháy gồm 30 thành viên [9.7.9]. Các ngày lễ tết đều có kế hoạch bảo vệ [9.7.10]. Các vụ việc xảy ra trong từng năm đều được thống kê [9.7.11]. Nhìn chung, các vụ việc này không mang tính nghiêm trọng và được Trường xử lý và báo cáo với công an địa phương [9.7.12]. Các thành viên trong Ban bảo vệ chuyên trách đều được trang bị bộ đàm để khi cần thiết gọi công an hỗ trợ [9.7.13].

2. Mặt mạnh:

Trường có lực lượng chuyên trách bảo vệ với các kế hoạch tác chiến cụ thể cho các tình huống, đảm bảo an toàn tài sản cho Trường. Hệ thống phòng cháy chữa cháy của Trường tốt. Nhằm đảm bảo tốt công tác trật tư trị an, Trường còn ký kết giao ước với công an địa phương.

3. Tồn tại:

Vẫn còn các vụ việc mất cắp xảy ra dù chủ yếu là do sự mất cảnh giác của sinh viên và cán bộ. Do có khuôn viên mở, thông với trường khác (Khoa học Tự nhiên) nên có nhiều người ra vào không phải là cán bộ và sinh viên của Trường. Ngoài ra, khu ở của cán bộ chung với khuôn viên trường nên việc quản lý và theo dõi cũng gặp nhiều khó khăn.

4. Kế hoạch hành động:

Tiếp tục tổ chức các buổi tập huấn phòng cháy chữa cháy cho lực lượng tự vệ hàng năm; tổ chức các buổi nói chuyện với sinh viên về tình hình an ninh trật tự; nâng cao tinh thần cảnh giác, tự bảo vệ tài sản cho sinh viên trong khuôn viên trường trong các buổi sinh hoạt đầu khóa.

Thành lập thêm một bộ phận bảo vệ trong sinh viên để hỗ trợ cho các cơ sở giảng dạy. Tăng cường thêm lực lượng bảo vệ, quản lý chặt chẽ 24/24 các khu nhà, tầng lầu, thang máy và nhà vệ sinh.

Tự đánh giá: mức 2

KẾT LUẬN

Trường ĐHSP TpHCM cố gắng phấn đấu tăng cường cơ sở vật chất, các nguồn tài lực và vật lực để đáp ứng mục tiêu là Trường sư phạm trọng điểm của khu vực và cả nước.

Trường có một đội ngũ thư viện viên được đào tạo, đáp ứng được các yêu cầu nghiệp vụ của một thư viện đại học. Những cố gắng tin học hóa trong những năm qua đã góp phần làm cho thư viện phục vụ tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của độc giả.

Hệ hệ thống các phòng thí nghiệm của Trường hiện nay đủ để phục vụ cho nhu cầu đào tạo của các ngành học: tự nhiên, xã hội, ngoại ngữ và giáo dục chuyên biệt.

Ký túc xá của Trường luôn dẫn đầu trong hệ thống ký túc xá các trường đại học và cao đẳng ở Tp.HCM.

Đội ngũ bảo vệ của Trường chuyên nghiệp và được bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên và được trang bị đầy đủ các phương tiện.

Trường cũng nhận thấy còn một số điểm tồn tại của mình: hiệu quả sử dụng nhiều trang thiết bị chưa cao; diện tích mặt bằng của Trường, bao gồm các phòng học, phòng thực hành thí nghiệm, ký túc xá và thư viện còn chưa đáp ứng được tiêu chuẩn quy định.

Để hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học, một kế hoạch hành động trong năm học tới được soạn thảo nhằm: Hoàn chỉnh và bổ sung qui hoạch tổng thể theo kế hoạch đào tạo và nghiên cứu của Trường; Xây dựng hệ thống đánh giá nhu cầu và hiệu quả sử dụng thư viện, các phòng thực hành, thí nghiệm và trang thiết bị của Trường và các đơn vị trực thuộc.


 



[1] Xem lại số liệu

[2] Ghi rõ minh chứng

 
  Thông tin khác
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 8
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 7
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 6
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 5
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 4
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 3
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 2
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 1
    Tổng quan trường ĐH Sư Phạm TPHCM
    Hiệu trưởng trường ĐHSP TP. HCM qua các thời kì
Trung Tâm Tin Học ĐHSP xây dựng năm 2006
Lượt truy cập: