Dai hoc Su pham Tp.HCM - HCMC University of Pedagogy
 
Trợ giúp Webmail
   Giới thiệu    Tin tức    Tuyển sinh    Đào tạo    Nghiên cứu    Hợp tác    Hành chính    Sinh viên    Thư viện  
    
ĐĂNG NHẬP
TIN MỚI NHẤT
 Tin hoạt động: Hướng dẫn thực hiện công tác HS,SV năm học 2008 - 2009
 Tin hoạt động: Trường ĐHSP TP.HCM tổ chức Lễ kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam
 Tin hoạt động: Khoa Toán – Tin học đón nhận Huân chương Lao động hạng III
 Tin hoạt động: Khoa Lịch sử tổ chức Hội thi Nghiệp vụ Sư phạm năm 2008
 Tin hoạt động: Thầy Trần Văn Tấn được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân
 Tin hoạt động: Lễ Tốt nghiệp và phát bằng đại học cho SV ngành Giáo dục Tiểu học hệ chuyên tu
 Lịch công tác tuần: Từ 17/11 đến 21/11/2008
 Lịch công tác tuần: Từ 17/11 đến 21/11/2008
 Lịch công tác tuần: Từ 17/11 đến 21/11/2008
 Tin công đoàn: Kết quả Hội thao chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20.11

Tổng quan:
Tự đánh giá - tiêu chuẩn 10



TIÊU CHUẨN 10: TÀI CHÍNH VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

 

Lãnh đạo nhà trường ý thức cao về việc xây dựng hành lang pháp lý cho công tác quản lý tài chính bằng văn bản quy định về thu chi nội bộ và xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ khi Nghị định 10 của Chính phủ về tự chủ tài chính, của Trường ra đời. Trường đã có nhiều giải pháp tích cực để công tác tài chính của Trường đi vào nề nếp, đảm bảo đáp ứng việc thực hiện các chỉ tiêu nhiệm vụ cơ bản trong kế hoạch của trường về công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và các nhiệm vụ chuyên môn khác như: hoàn thiện việc tổ chức bộ máy kế toán theo các hướng dẫn thi hành Luật kế toán; ứng dụng tin học trong thực hiện chế độ kế toán; hướng dẫn quy trình lập kế hoạch, tạm ứng và thanh quyết toán cho các đơn vị sử dụng kinh phí…Việc phân bổ và sử dụng tài chính của nhà trường hàng năm được thực hiện công khai và minh bạch.

Cùng với sự phát triển về quy mô và loại hình đào tạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, phục vụ cộng đồng và nâng cao dân trí, nguồn thu sự nghiệp từ các họat động ngoài chính quy đã bổ sung đáng kể vào nguồn kinh phí chi cho các hoạt động thường xuyên của Trường. Nguồn thu này cũng được quản lý tập trung và tuân thủ các quy định về tài chính.

Ngân sách Nhà nước cấp và các nguồn thu sự nghiệp nêu trên được phân bổ cụ thể cho các khoản chi tiêu phù hợp với tình hình tài chính và yêu cầu nhiệm vụ cụ thể trong kế hoạch, dự toán hàng năm của Trường và dự trù kinh phí của các đơn vị.

Tiêu chí 10.1: Trường ĐH Sư phạm TP. HCM đã có những giải pháp và kế hoạch tự chủ tài chính, tạo được các nguồn tài chính hợp pháp, đáp ứng các hoạt động đào tạo, NCKH và các hoạt động khác của Trường.

1. Mô tả:

Các nguồn thu của Trường được nêu rõ trong Quy chế chi tiêu nội bộ [10.1.1] và đều là các nguồn hợp pháp bao gồm kinh phí hoạt động thường xuyên do ngân sách Nhà nước cấp và nguồn thu sự nghiệp như các loại phí, lệ phí; thu dịch vụ khai thác cơ sở vật chất (các trung tâm phục vụ cộng đồng, bãi xe, căn tin); thu từ hợp đồng giảng dạy với các địa phương, hợp đồng NCKH do Viện Nghiên cứu Giáo dục thực hiện theo đề nghị của các đơn vị ngoài trường. Các nguồn thu được thực hiện đúng các quy định về tài chính trong việc sử dụng ấn chỉ, hóa đơn và các biểu mẫu theo chế độ kế toán do cơ quan tài chính có thẩm quyền ban hành [10.1.2]. Toàn bộ số tiền thu được đều hạch toán đầy đủ vào các tài khoản có liên quan, học phí hệ chính quy và các hệ đào tạo theo chỉ tiêu Bộ giao được nộp vào tài khoản tiền gửi tại Kho bạc Nhà nước [10.1.3].

Ngân sách do Bộ cấp theo dự toán được thực hiện đúng các quy định và mục đích sử dụng nguồn kinh phí để phục vụ đào tạo đại học, sau đại học, NCKH, bồi dưỡng cán bộ, tăng cường CSVC…Các khoản chi tiêu được hạch toán đúng theo mục lục ngân sách và chịu sự kiểm soát của kho bạc Nhà nước [10.1.3].  Kinh phí các hoạt động sự nghiệp khác được thực hiện theo những quy định nội bộ về thu, chi tài chính, tổng hợp và hạch toán chi tiết trong hệ thống sổ sách kế toán [10.1.4].

Toàn bộ các nội dung trên được thể hiện rõ trong Báo cáo tài chính của Trường và được Bộ chủ quản phê duyệt trong Thông báo duyệt quyết toán tài chính hàng năm [10.1.5].

Với chức năng, nhiệm vụ và nguồn lực của mình, Trường đã định hướng chiến lược phát triển các hoạt động đào tạo đa lĩnh vực lấy sư phạm làm gốc [10.1.6] nhằm phát huy nội lực, phục vụ cộng đồng, từ đó tạo nguồn thu hợp pháp. Trong quá trình triển khai, định hướng này được cụ thể hóa trong các báo cáo chính trị của Đảng bộ nhà trường [10.1.7], các báo cáo phương hướng hoạt động từng năm học của Hội nghị CB-VC [10.1.8], trong kế hoạch năm học, các chương trình, đề án do các đơn vị chức năng triển khai (kế hoạch tổ chức các lớp đào tạo theo địa chỉ [10.1.9], đề án mở các mã ngành đào tạo mới ngoài sư phạm [10.1.10], các lớp bồi dưỡng chuyên đề [10.1.12], ký kết liên kết đào tạo với các trường đại học và các tổ chức giáo dục ở các nước như  [10.1.11]: Úc, Trung Quốc, Sec, Pháp…. Để duy trì và tăng kinh phí của các nguồn thu hợp pháp các đơn vị được giao tổ chức hoạt động sự nghiệp có kế hoạch đầu tư trang bị CSVC hiện đại, đổi mới chương trình, giáo trình, bồi dưỡng đội ngũ, liên kết đào tạo câp bằng của các tổ chức giáo dục có uy tín ngoài nước [10.1.13]. Trường cũng có các chế độ thưởng đối với các đơn vị có nguồn thu cao.

Phần tài chính tích lũy được qua các hoạt động trên đã bổ sung kinh phí thường xuyên được sử dụng hợp lý cho hoạt động chuyên môn và tái đầu tư phát triển nhà Trường. Đề án Xây dựng Trường ĐHSP TP.HCM thành Trường trọng điểm [10.1.6] nêu rõ “Trong vòng 5 và 10 năm tới, Trường sẽ tập trung nỗ lực cho công tác xây dựng nguồn nhân lực, coi đó là nhiệm vụ chiến lược …”, đây là mục tiêu quan trọng trong chính sách đầu tư phát triển của nhà trường. Nhiều chế độ ưu tiên, nhất là về tài chính cho việc học tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ dành cho CB-VC (đưa thành các điều khoản hỗ trợ trong các văn bản về chi tiêu nội bộ [10.1.1]. Các khoản thu nhập và phúc lợi đối với CB-VC được đảm bảo. Đầu tư về CSVC được quan tâm đúng mức từ nguồn vốn xây dựng cơ bản và các chương trình mục tiêu. Trong giai đoạn hiện tại, đồng thời với đầu tư cho đội ngũ, mục tiêu tái đầu tư phát triển nhà trường là xây dựng mới dãy nhà học 7 tầng thay thế khu nhà học A xây dựng từ năm 1957 đã xuống cấp theo Quyết định phê duyệt số 5562QĐ/BGD&ĐT bằng nguồn kinh phí đầu tư XDCB, kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu và nguồn kinh phí khác của Trường.

Việc sử dụng các nguồn tài chính đã duy trì được hoạt động và  tái đầu tư phát triển nhà trường về con người cũng như CSVC. Chiến lựợc khai thác các nguồn tài chính của Trường được thể hiện ở nhiều văn bản và các chương trình, kế hoạch và hoạt động cụ thể (10.1.8). Tính hiệu quả trong khai thác các nguồn tài chính thể hiện qua những thành tích cụ thể trong hoạt động đào tạo, NCKH, các phòng trào thi đua, hoạt động các đoàn thể…(10.1.14). Trong 5 năm qua, Trường đã dành 1,7 tỷ đồng hỗ trợ cho công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ viên chức giảng dạy. Kinh phí thường xuyên của Trường phân bổ một tỷ lệ không nhỏ (12->15%) cho việc đầu tư máy móc, thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập.

2 Mặt mạnh:

- Các nguồn tài chính của Trường được khai thác một cách hợp pháp và được sử dụng đúng mục đích nguồn kinh phí của các loại hình hoạt động. Trường đã phát huy mọi khả năng của đơn vị để phát triển hoạt động sự nghiệp phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao và khả năng chuyên môn, tăng nguồn thu và giải quyết thu nhập cho người lao động.

- Các đơn vị chức năng được giao tổ chức các hoạt động có thu tích cực tìm nhiều mô hình, giải pháp để tăng nguồn thu hợp lý, và nâng cao chất lượng hoạt động. Về phía nhà trường, Quy chế Chi tiêu nội bộ cũng nêu những biện pháp khuyến khích tăng nguồn thu như chế độ thưởng đối với các đơn vị có thu cao hơn định mức hoặc tiết kiệm chi tiêu.

3. Tồn tại:

- Chưa hoạch định chiến lược tổng thể để tăng các nguồn tài chính hợp pháp.

- Cơ chế quản lý và tổ chức các hoạt động có thu của Trường còn có những điểm chưa hợp lý.

4. Kế hoạch hành động:

- Nghiên cứu nhu cầu thực tế và xu thế phát triển để xây dựng chiến lược khai thác nguồn thu hợp pháp: Giao cho các đơn vị sự nghiệp, các đơn vị chức năng, đầu mối là các Trung tâm phục vụ cộng đồng, Phòng Đào tạo, Phòng KHCN-Sau Đại học và Phòng Hợp tác Quốc tế tìm những giải pháp mới trong bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, chuyên đề sau đại học, liên kết đào tạo với nước ngoài, du học tại chỗ…Từ đó xây dựng kế hoạch tổng thể nhằm tăng nguồn thu hợp pháp cho Trường .

- Yêu cầu các đơn vị lên kế hoạch phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính: tinh gọn bộ máy, giảm chi phí nhằm tăng thu nhập hợp lý cho CBVC theo tinh thần Nghị định 43/2006/NĐ-CP.

- Hoàn thiện cơ chế quản lý, tổ chức các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Trường theo hướng giao quyền tự chủ, tạo điệu kiện thuận lợi cho các đơn vị hoạt động khai thác thế mạnh đem lại nguồn thu ổn định, hợp pháp.   .

- Điều chỉnh nguồn kinh phí hợp lý để đầu tư xây dựng mới nhà trường (2006-2009)

Tự đánh giá: mức 1


Tiêu chí 10.2: Công tác lập kế hoạch tài chính được chuẩn hóa, công khai hóa, minh bạch và theo đúng quy định

1 Mô tả:

Kế hoạch và dự toán kinh phí hàng năm được lập chi tiết, rõ ràng và sát với thực tế theo đúng biểu mẫu quy định của Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và đào tạo và định hướng phát triển của Nhà trường [10.2.1].

Hàng năm các đơn vị chức năng xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch cho năm sau. Bộ phận kế hoạch của Phòng Kế hoạch Tài chính căn cứ kế hoạch chung của Trường và tình hình chi tiêu tài chính của năm trước để lập dự toán. Nguồn kinh phí được phân bổ đúng mục đích cho các nhiệm vụ đào tạo, NCKH và các hoạt động khác. Tại Hội nghị Tài chính và Thiết bị [10.2.2] hàng năm, Trường công khai tình hình sử dụng kinh phí và giao kinh phí cho động chuyên môn và mua sắm trang thiết bị theo dự trù của các đơn vị. Nội dung này được thể hiện qua Kế hoạch Ngân sách các năm 2001, 2002, 2003, 2004, 2005; dự trù kinh phí hoạt động chuyên môn của các đơn vị, bản tổng hợp dự trù trang thiết bị của các đơn vị, các báo cáo tại Hội nghị Tài chính và Thiết bị [10.1.3, 10.2.7].

Việc quản lý chi tiêu thống nhất và minh bạch trong toàn trường bởi hệ thống các văn bản quy định về chế độ, định mức nội bộ như chế công tác phí, định mức thanh toán các hoạt động chuyên môn như NCKH, giờ dạy, thực tế, thực tập, khen thưởng… và các chế độ chính sách theo quy định của Nhà nước đối với CB-VC . Các văn bản liên quan đều được sao gửi đầy đủ cho các đơn vị, đồng thời các phòng chức năng như TC-HC, KH-TC trực tiếp hướng dẫn và thực thi nghiêm túc, đúng quy trình: có xác nhận của đơn vị chức năng, được chủ tài khoản hoặc người được ủy quyền duyệt.

Tính minh bạch trong công tác tài chính của trường còn thể hiện rõ qua các văn bản chỉ đạo của Đảng ủy; các vấn đề liên quan đến việc xây dựng định mức, sử dụng các nguồn kinh phí…đều được thảo luận góp ý dân chủ, công khai từ các đơn vị [10.2.4] và xem xét nghiêm túc tại các Hội nghị cán bộ chủ chốt toàn trường [10.2.5].

Dự toán ngân sách được giao và tình hình sử dụng các nguồn kinh phí được công khai tại Hội nghị CB-VC, Hội nghị Tài chính và Thiết bị hàng năm [10.2.6]; niêm yết tại bảng thông báo của phòng KH-TC theo đúng quy định tại Thông tư 21 của Bộ tài chính về công khai tài chính [10.2.7].

Việc xem xét tính chính xác và hợp lý, hợp pháp việc sử dụng kinh phí của Trường đã được Bộ chủ quản xét duyệt và ra thông báo duyệt quyết toán hàng năm [10.1.5].

Từ năm 2001, Trường đã trang bị phần mềm kế toán HCSN cho phòng KH-TC nhằm nâng cao công tác quản lý tài chính của Trường [10.2.3].

2. Mặt mạnh:

- Công tác lập kế hoạch rõ ràng, tương đối sát với thực tế; công tác quản lý tài chính ngày càng được chuẩn hóa.

- Việc sử dụng kinh phí được công khai hóa, minh bạch và tuân thủ các quy định của Nhà nước.

- Công tác kế toán đã cố gắng thực hiện tốt kế hoạch hoạt động và dự toán thu chi kinh phí, hoàn thành nhiệm vụ công tác hạch toán kế toán và quyết toán kinh phí theo chế độ hiện hành.

- Tin học hóa công tác quản lý tài chính, thông tin kịp thời về tình hình sử dụng kinh phí.

3. Tồn tại:

- Tính kế hoạch trong việc sử dụng kinh phí ở một số các đơn vị chưa cao.

- Một số nghiệp vụ kế toán tại Viện NCGD chưa đầy đủ và chính xác.

4. Kế hoạch hành động:

- Yêu cầu các đơn vị tập trung xây dựng kế hoạch tổng quát cho việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của từng giai đoạn và chi tiết cho mỗi năm học. Dự kiến triển khai vào tháng 9/2006 cho năm học 2006-2007. Kể từ những năm học sau, kế hoạch phải được xây dựng vào tháng 5-6 hàng năm.

- Hướng dẫn các đơn vị lập dự toán các khoản mục chi và định mức cho phần kinh phí giao cho đơn vị chủ động sử dụng cho hoạt động chuyên môn. Phòng KHTC có trách nhiệm xem xét dự toán trình Hiệu trưởng duyệt.

- Chấn chỉnh công tác kế toán tại các đơn vị hạch toán trực thuộc. Đề nghị lãnh đạo Viện trang bị phần mềm kế toán. ( Tháng 8/2006)

Tự đánh giá: mức 1

Tiêu chí 10.3: Đảm bảo sự phân bổ, sử dụng tài chính hợp lý, minh bạch và hiệu quả cho các đơn vị và các hoạt động của Trường

1. Mô tả:

Nguồn tài chính của Trường được phân bổ hợp lý, căn cứ theo các tiêu chí về đào tạo, NCKH, kế hoạch hoạt động của các đơn vị và thực tế chi tiêu cần thiết hàng năm của trường trong khuôn khổ ngân sách được cấp và nguồn thu sự nghiệp [10.2.1].

Theo đề án xây dựng Trường ĐHSP trọng điểm và mục tiêu, nhiệm vụ nhà trường đề ra cho từng năm học [10.1.6, 10.1.8], phòng KH-TC cân đối nguồn kinh phí để ưu tiên chi tiêu cho các công tác trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo: bồi dưỡng nâng cao trình độ và chuyên môn nghiệp vụ cho CB, điều chỉnh định mức chi cho công tác thực tập sư phạm, đầu tư cho việc xây dựng chương trình, đổi mới giáo trình, công tác NCKH của sinh viên, xây dựng giáo trình điện tử…Việc phân bổ kinh phí được minh bạch và công khai hoá và thông báo bằng các văn bản hành chính như Quy chế chi tiêu nội bộ, thông báo hoặc quyết định cấp kinh phí thực hiện đề tài NCKH [10.3.1], công văn phân bổ kinh phí xây dựng chương trình, xây dựng giáo trình [10.3.2],  định mức cho các đoàn Thực tập [10.3.3] …

Hiệu quả đầu tư kinh phí được khẳng định. Số liệu đội ngũ cán bộ, giảng viên có trình độ sau đại học tăng rõ rệt trong những năm gần đây. Đến nay đã có trên 62,7% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ trở lên (trong đó 25,4% có trình độ tiến sĩ) [10.3.4]. Về đào tạo sinh viên, 80% sinh viên của Trường tốt nghiệp được tuyển dụng đáp ứng nhiệm vụ công tác trong ngành giáo dục ở các địa phương [10.3.5], các đội tuyển dự thi Olympic toàn quốc của trường đạt nhiều thành tích tốt.

Trong vòng 3 năm trở lại đây việc sử dụng các nguồn kinh phí được sử dụng theo đúng quy định, hợp lý để phục vụ mục tiêu chiến lược phát triển ngắn hạn và dài hạn của Trường, phân bổ kinh phí phù hợp với nhiệm vụ của các đơn vị.

Cơ sở vật chất của Trường trong 5 năm qua được nâng cấp đáng kể do được sự đầu tư của Bộ GD & ĐT bằng nguồn kinh phí XDCB, chương trình mục tiêu và Dự án GDĐH mức A.

2. Mặt mạnh:

Phân bổ hợp lý và sử dụng kinh phí hiệu quả theo mục tiêu trọng tâm và định hướng phát triển Trường.

3 Tồn tại:

Việc thực hiện các chính sách thuế đối với nhà nước, trong đó có thuế thu nhập cá nhận đối với người có thu nhập cao và thuế TNDN đối với các hoạt động đào tạo có thu ngoài giờ của Trường còn chưa được tuân thủ một cách nghiêm túc.

4. Kế hoạch hành động:

- Từ năm 2006, Trường nghiên cứu và tiến hành việc phân bổ kính phí ngân sách và các nguồn thu theo các tiêu chí cơ bản trong công tác đào tạo: số GV, số SV, chương trình đào tạo…

- Triển khai việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các cá nhân ( đã có văn bản triển khai đến các đơn vị vào tháng 5/2006) và các hoạt động dịch vụ đối với nhà nước.

Tự đánh giá: mức 1

KẾT LUẬN:

Các hoạt động tài chính của Trường trong nhiều năm nay đã có những chuyển biến tích cực theo hướng kế hoạch, hiệu quả, minh bạch và công khai. Hàng năm, kế hoạch ngân sách đều được xem xét từ yêu cầu hoạt động chuyên môn của các đơn vị.

Từ khi được giao quyền tự chủ một phần kinh phí theo Nghị định 10 (năm 2003) và Nghị định 43 (2006), Trường đã có những qui định về sử dụng kinh phí cho các hoạt động bằng việc xây dựng qui chế thu chi nội bộ. Qui chế này, sau nhiều lần sửa đổi (với sự đóng góp xây dựng của các đơn vị) đã góp phần vào việc tăng cường quản lý tài chính của Trường, nhất là thực hiện công khai các hoạt động tài chính. Qui chế chi tiêu nội bộ đã bám sát các văn bản tài chính hiện hành và sẽ được chỉnh sửa khi có những thay đổi về quản lý tài chính của Nhà nước.

Trường chưa thực sự có chiến lược thu hút nguồn kinh phí từ các hoạt động khác ngoài hoạt động giảng dạy và phục vụ cộng đồng. Nguồn kinh phí này chưa thực sự là động lực thúc đẩy các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của Trường.

Công tác kế hoạch và thực hiện kế hoạch chưa đồng bộ: vẫn còn có những hoạt động điều chỉnh kế hoạch trong năm. Việc thực hiện tạm ứng, thanh quyết toán tuy có nhiều tiến bộ nhưng số dư nợ tạm ứng vẫn cao, nhất là tạm ứng các đề tài nghiên cứu khoa học.

Việc thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước còn chưa nghiêm. Một phần bởi những qui định của Nhà nước đối với ngnhà giáo dục, nhất là sư phạm không phù hợp (thu thuế doanh nghiệp, yêu cầu khấu trừ thi nhập cá nhân của những người tham gia giảng dạy tại trường…), một phần do Trường chưa chủ động tuyên truyền thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước.

Trong thời gian tới, Trường sẽ tiếp tục củng cố các hoạt động tài chính theo hướng minh bạch, công khai, có kế hoạch. Phấn đấu đưa quản lý tài chính thành một động lực nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học, tăng thu nhập cho cán bộ công chức.


 

 
  Thông tin khác
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 9
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 8
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 7
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 6
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 5
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 4
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 3
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 2
    Tự đánh giá - tiêu chuẩn 1
    Tổng quan trường ĐH Sư Phạm TPHCM
Trung Tâm Tin Học ĐHSP xây dựng năm 2006
Lượt truy cập: