Khoa Ngữ Văn
  
Phát triển du lịch bền vững - Đâu là giải pháp cho Việt Nam? PDF. In Email
Thứ hai, 11 Tháng 5 2020 10:51

Phát triển du lịch bền vững - Đâu là giải pháp cho Việt Nam?

 

Chúng ta cần một nền du lịch bền vững - một nền du lịch tốt cho đất nước lúc này và còn bền vững dài lâu mai sau. Trong phần sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu phát triển du lịch bền vững là gì? Tại sao lại cần phát triển du lịch bền vững? Việt Nam đang gặp những khó khăn gì trong việc tiếp cận mô hình phát triển du lịch bền vững? Và đâu là giải pháp cho những khó khăn này?

I. Khái niệm về du lịch bền vững

Du lịch bền vững là du lịch giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường thiên nhiên và cộng đồng địa phương, và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn sinh thái mà  du lịch phụ thuộc vào.

Ảnh: Du lịch Vĩnh Long

Mạng Lưới tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hợp Quốc (United Nation World Tourism Organization Network - UNWTO) chỉ ra rằng du lịch bền vững cần phải:

1. Về môi trường: Sử dụng tốt nhất các tài nguyên môi trường đóng vai trò chủ yếu trongphát triển du lịch, duy trì quá trình sinh thái thiết yếu, và giúp duy trì di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học tự nhiên.

2. Về xã hội và văn hóa: Tôn trọng tính trung thực về xã hội và văn hóa của các cộng đồng địa phương, bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị truyền thống  đã được xây dựng và đang sống động, và đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hóa.

3. Về kinh tế: Bảo đảm sự hoạt động kinh tế tồn tại lâu dài, cung cấp những lợi ích kinh tế xã hội tới tất cả những người hưởng lợi và được phân bổ một cách công bằng, bao gồm cả những nghề nghiệp và cơ hội thu lợi nhuận ổn định và các dịch vụ xã hội cho các cộng đồng địa phương, và đóng góp vào việc xóa đói giảm nghèo.

Khái niệm phát triển du lịch bền vững không chỉ tập trung vào việc bảo vệ môi trường mà còn tập trung vào việc duy trì những văn hóa của địa phương và đảm bảo việc phát triển kinh tế, mang lại lợi ích công bằng cho các nhóm đối tượng tham gia.

II. Tại sao lại cần phát triển du lịch bền vững?

Du lịch là một trong những công nghệ tạo nhiều lợi tức nhất cho đất nước. Du lich có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta đạt các Mục Tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals) mà Liên Hơp Quốc đã đề ra từ năm 2000, đặc biệt là các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới tính, bền vững môi trường và liên doanh quốc tế để phát triển.

Chính vì vậy mà du lịch bền vững (sustainable tourism) là một phần quan trọng của phát triển bền vững (sustainable development) của Liên Hợp Quốc và của Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Phát triển du lịch bền vững là một chủ đề được thảo luận rất nhiều ở các hội nghị và diễn đàn lớn nhỏ trên toàn thế giới. Mục đích chính của phát triển bền vững là để 3 trụ cột của du lịch bền vững - Môi trường, Văn hóa xã hội và Kinh tế - được phát triển một cách đồng đều và hài hòa.

Những lí do đi sâu vào chi tiết để giải thích tại sao lại cần phát triển du lịch bền vững thì có nhiều, nhưng có thể thấy rất rõ ở 3 yếu tố từ định nghĩa trên:

Thứ nhất: Phát triển du lịch bền vững giúp bảo vệ môi trường sống. Vì bảo vệ môi trường sống không chỉ đơn giản là bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm sống trong môi trường đó, mà nhờ có việc bảo vệ môi trường sống mà con người được hưởng lợi từ đó: Không bị nhiễm độc nguồn nước, không khí và đất. Đảm bảo sự hài hòa về môi trường sinh sống cho các loài động thực vật trong vùng cũng là giúp cho môi trường sống của con người được đảm bảo.

Thứ hai: Phát triển du lịch bền vững còn giúp phát triển kinh tế, ví dụ, từ việc khai thác các đặc sản văn hóa của vùng, người dân trong vùng có thể nâng cao đời sống nhờ khách du lịch đến thăm quan, sử dụng những dịch vụ du lịch  và sản phẩm đặc trưng của vùng miền, của vùng. Phát triển du lịch bền vững cũng giúp người làm du lịch, cơ quan địa phương, chính quyền và người tổ chức du lịch được hưởng lợi, và người dân địa phương có công ăn việc làm.

Thứ ba: Phát triển du lịch bền vững còn đảm bảo các vấn đề về xã hội, như việc giảm bớt các tệ nạn xã hội bằng việc cung cấp công ăn việc làm cho người dân trong vùng. Ở một cái nhìn sâu và xa hơn, du lịch bền vững giúp khai thác nguồn tài nguyên một cách có ý thức và khoa học, đảm bào cho các nguồn tài nguyên này sinh sôi và phát triển để thế hệ sau, thế hệ tương lai có thể được tiếp nối và tận dụng.

Với ba lí do được đề cập đến ở bên trên, ta có thể thấy rõ vai trò và tầm quan trọng của phát triển du lịch bền vững trong chính sách phát triển bền vững ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Phát triển du lịch bền vững để có thể đạt được 3 yếu tố đó đòi hỏi rất nhiều công sức và sự làm việc nghiêm chỉnh trong lúc thực hiện, đặc biệt đối với một nước nền kinh tế còn nghèo và còn nhiều phụ thuộc như Việt Nam, cùng với việc phát triển dân số,hệ thống luật lệ chồng chéo, và hệ thống hành chánh còn nhiều yếu kếm. Nhưng đâu mới là nguyên nhân chính cho việc thực hiện phát triển du lịch bềnvững còn gặp nhiếu khó khăn? Đó là những khó khăn gì?

III. Tại sao việc thực hiện phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam lại gặp nhiều khó khăn, đó là những khó khăn gì?

Khó khăn thứ nhất có thể nhìn thấy rất rõ đó là Việt Nam chưa có một hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm có đường xá giao thông đi lại, với đủ các tiêu chuẩn an toàn  và dễ tiếp cận cho khách du lịch để thực hiện việc di chuyển nhanh chóng, an toàn và thuận tiện.

Ví dụ: Vườn Quốc gia Tràm Chim ở Đồng Tháp  là một trong những khu vườn có nhiều loài chim quý hiếm, như sếu đầu đỏ, có khu rừng tràm, có đồng lúa ma, đồng cỏ ống. Vườn Quốc Gia Tràm Chim được ví như một Đồng Tháp Mười thu hẹp với sự đa dạng cả về động thực vật quý hiếm. Tuy nhiên, để vào được sâu bên trong khu vực và tìm hiểu về sự đa dạng về động thực vật ở vườn, hệ thống đi lại cùng với các tuyến xe bus trong ngày còn chưa thật thuận tiện. Nằm trong dự án về việc phát triển vườn trong những năm tới, vườn Tràm Chim dự tính sẽ có dự án gói kín từ sân bay Tân Sơn Nhất tới thẳng Tràm Chim nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch có thể tiếp cận được Tràm Chim một cách dễ dàng.

Tuy nhiên việc tiếp cận sâu bên trong vườn có thể gây ảnh hưởng đến một số loài chim di cư.

Khó khăn thứ hai là việc người dân khi ở những khu vực du lịch này thường xâm phạm đến các tài sản của khu vực du lịch mà không ý thức được hết ảnh hưởng lâu dài đến vấn đề môi trường sinh thái và những lợi ích lâu dài cho công động.

Cũng là vấn đề về việc người dân khai thác và sử dụng tài nguyên bên trong của vườn Tràm Chim, người dân trong vùng xâm lấn và đánh bắt cá bằng điện, hay đốt tổ ong lấy mật gây ra cháy rừng, đặc biệt trong mùa khô. Điều này cũng diễn ra tương tự với rừng U Minh Thượng gây trở ngại rất nhiều cho việc kiểm soát rừng một cách cẩn thận và gắt gao trong những mùa cao điểm.

Cuộc sống ở Vườn quốc gia Tràm Chim. Ảnh: Báo ảnh Việt Nam

Nhưng đây có phải thực sự là những khó khăn lớn nhất trong việc phát triển du lịch bền vững ở những khu vực vườn quốc gia có nhiều đa dạng sinh học?  Việc nâng cao nhận thức đối với người dân và cộng đồng đã được đề cập khá rõ trong tài liệu của tổ chức phi chính phủ như WWF, Care International, Ausaid hay GIZ với những chương trình có mục tiêu thậm chí lớn và cụ thể hơn. Đây cũng là những tổ chức phi chính phủ có nhiều hỗ trợ và đóng góp đối với các vườn quốc gia có sự đặc biệt về đa dạng sinh học trong khu vực đồng bằng sông Mekong.

Nhưng qua tìm hiểu và phỏng vấn của chúng tôi đối với bà con vườn quốc gia Cà Mau cho thấy,  người dân  hoàn toàn hiểu về điều không nên đánh bắt các loại thủy hải sản và đặc biệt những loài còn nhỏ và quý hiếm. Vấn đề rác thải và môi trường cũng được bà con đề cập tới, đó là để gọn lại từng nơi rồi xử lí. Đối với từng loài cây như cây đước, cây mắm, cây tràm, người dân địa phương đều thể hiện sự hiểu biết về giá trị sử dụng, cách chúng xâm lấn ra biền bằng nguồn phù sa do hệ thống kênh rạch mang đến.

Người dân có ý thức hơn là người ta nghĩ.

Vậy đâu là nguyên nhân chính và chủ yếu khiến cho việc phát triển du lịch bền vững ở những khu vực này còn gặp nhiều khó khăn và thực hiện chậm chạp?

Trở lại định nghĩa du lịch bền vững của Mạng lưới tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hợp Quốc, trong đó có nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan, và đặc biệt là vai trò lãnh đạo chính trị.

Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự tham dự hiểu biết của tất cả những nhóm được ảnh hưởng bởi du lịch, cũng như sự lãnh đạo chính trị mạnh mẽ để đảm bảo sự tham gia sâu rộng và xây dựng sự đồng thuận. Đạt được du lịch bền vững là một quá trình liên tục và đòi hỏi sự giám sát không ngừng của những ảnh hưởng, giới thiệu những biện pháp phòng tránh và/ hoặc sửa chữa bất kì khi nào cần thiết.

Yếu tố lãnh đạo về chính trị dường như là một yếu tố còn khá nhạy cảm và khó đề cập ở đây. Một ví dụ điển hình là số lượng khách du lịch hàng năm đến Cà Mau rất lớn với đặc điểm nổi bật của vườn là có Cột mốc tọa độ ở cực Nam của Tổ quốc và vừa trở thành khu Ramsar thứ 2088 của thế giới. Số lượng vé bán hay cách khai thác về du lịch đem lại nguồn thu  rất lớn được Sở Văn Hóa tỉnh Cà Mau nắm và quản lí.

Ngược lại, tài nguyên rừng nằm trong phạm vi quản lí của vườn quốc gia, vì vậy bất kì vấn đề gì liên quan đến rừng và tài nguyên, kiểm lâm hay các cán bộ vườn luôn phải chịu trách nhiệm.Ví dụ: việc người dân xâm nhập hay cây đổ.

Điều khiến cho việc quản lí này trở nên khó khăn là vườn và cán bộ vườn không nhận được sự hỗ trợ về vật chất của Sở Văn hóa tỉnh Cà Mau.

Sự bất hợp lí này cũng khiến cho việc cán bộ nhân viên và nhân dân gặp khó khăn trong việc xây dựng vườn trở thành một nơi giữ được vẻ đẹp đa dạng sinh học thu hút khách du lịch từ khắp mọi nơi.

Phát triển du lịch bền vũng là một chính sách lớn, dùng các khu bảo tồn và vườn quốc gia làm chủ lực và mọi nhóm người liên hệ - quản lý các khu bảo tồn và vườn quốc gia, các cơ quan hành chánh và an ninh địa phương, chính quyền trung ương trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, các công ty du lịch, các nhân viên làm việc du lịch, đại diện các cộng đồng nhân dân địa phương - tất cả mọi người liên hệ đều phải được huấn luyện và giáo dục kỹ càng, và phải làm việc đồng bộ với nhau.

Đồng thời du lịch bền vững có sức thu hút khách nước ngoài  rất cao, vì họ muốn thăm những hệ sinh thái đặc biệt, những nền văn hóa đặc biệt, những động vật và thực vật quý hiếm đặc biệt. Cho nên khả năng liên kết với các cơ quan du lịch và công ty du lịch ở nước ngoài là điều tất yếu.

Chính vì vậy mà vai trò lãnh đạo chính trị mạnh mẽ của nhà nước không thể thiếu sót. Trong ví dụ điển hình của Đất Mũi, Cà Mau, tình trạng thiếu phát triển của vùng Đất Mũi cho thấy lãnh đạo Cà Mau (Ủy ban Nhân dân) và lãnh đạo các khu bảo tồn và vườn quốc gia cần làm việc chung để có một chính sách lớn về phát triển du lịch bền vững tại vùng Đất Mũi - dùng cột mốc tọa độ 0, Vườn Quốc Gia Tràm Chim, Rừng Ramsar, rừng trạm, U Minh Thượng, đồng lúa ma, đồng cỏ ống - và làm việc với mọi nhóm được ảnh hưởng từ du lịch bền vững, đặc biệt là các cộng đồng dân cư địa phương, và với chính quyền trung ương để kêu gọi đầu tư cơ sở hạ tầng và các tiện nghi du lịch. Đất Mũi là vùng có rất nhiều tài nguyên sinh thái và cột mốc tọa độ 0 của nước Việt Nam. Tiềm năng du lịch bền vững thật là lớn nếu chúng ta biết khai thác.

IV. Kết luận

Tất cả các giải pháp về vấn đề phát triển bền vững, được trình bày ở RIO +20 của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, thậm chí vấn đề phát triển du lịch bền vững cũng được đề cập khá rõ ràng trong chương trình Nghị Sự 21 từ năm 1997. Nhưng sau rất nhiều năm, tất cả đều còn chưa nhìn thấy một sự thay đổi rõ rệt. Điều này dấy lên một câu hỏi về quyết tâm của các lãnh đạo trung ương và địa phương trong việc phát triển du lịch bền vững.

Cho đến khi nào du lịch bền vững được thực hiện một cách sâu rộng và đạt hiệu quả cao nhất để tạo công ăn việc làm cho hơn 80 triệu người dân, giúp bảo vệ môi trường và tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của thế hệ tương lai  Đó dường như là một câu hỏi còn đang cần lời giải đáp của rất nhiều người, đặc biệt của các bên liên quan và vai trò của các nhà lãnh đạo chính trị.

Đỗ Hồng Thuận

Ứng viên Đại sứ Du Lịch

 
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU KHÁI NIỆM “ĐÁNH GIÁ THEO NĂNG LỰC” VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NGỮ VĂN CỦA HỌC SINH PDF. In Email
Chủ nhật, 03 Tháng 5 2020 17:05

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU KHÁI NIỆM “ĐÁNH GIÁ THEO NĂNG LỰC” VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NGỮ VĂN CỦA HC SINH

NGUYỄN THÀNH NGC BO*

1. Đặt vấn đề

Mc tiêu giáo dục cơ bản trong tương lai là đào tạo ra những người có khả năng thích ứng và sáng to trong mi môi trường và điều kiện phức tp ca cuộc sống hiện đại như sự thay đổi từng ngày ca khoa hc kĩ thuật hay những tình huống bất ngờ, mới mca xã hội. Nền giáo dc ca chúng ta đang từng bước áp dng các hình thức dy hc tích cực, lấy người hc làm trung tâm, tập trung phát triển năng lực ca người hc. Một điều tất yếu là khi phương pháp dy học đã thay đổi thì các hình thức kiểm tra đánh giá cũng phải đổi mới cho phù hợp. Bài viết tập trung tìm hiểu hai vấn đề chính: (1) khái niệm đánh giá theo năng lực; (2) một số hình thức đánh giá năng lực Ngữ văn dựa trên hình thức dy hc dự án và hồ sơ học tập ca hc sinh.

2. Khái niệm năng lực và đánh giá theo năng lực

2.1. Khái niệm năng lực

Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chbiên) thì năng lực có thể được hiểu theo hai nét nghĩa:

(1)Chmột khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó [1, tr. 114]

(2)Là một phẩm chất tâm sinh lí to cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao [1, tr. 114].

Hiểu theo nét nghĩa thứ nhất, năng lực là một khả năng có thực, được bộc lộ ra thông qua việc thành tho một hoặc một số kĩ năng nào đó của người hc.

Hiểu theo nét nghĩa thứ hai, năng lực là một cái gì đó sẵn có ở dng tiềm năng của người hc có thể giúp hgii quyết những tình huống có thực trong cuộc sống.

Như vậy, từ hai nét nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu năng lực là một cái gì đó vừa tồn ti ở dng tiềm năng vừa là một khả năng được bộc lộ thông qua quá trình gii quyết những tình huống có thực trong cuộc sống. Khía cnh hiện thực của năng lực là cái mà nhà trường phổ thông có thể tổ chức hình thành và đánh giá học sinh.

Theo quan niệm của chương trình giáo dc phổ thông ca Quebec (Canada) thì “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hot và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cm, giá trị, động cơ cá nhân... nhằm đáp ứng hiệu qumột yêu cầu phức hợp ca hoạt động trong bối cnh nhất định” [9]. Với cách hiểu này thì việc hc sinh chcó kiến thức, kĩ năng vthái độ không được xem như là có năng lực mà cba yếu tố này phải được người hc vận dng trong một tình huống nhất định thì mới phát triển thành năng lực.

Có thể tham kho thêm một số cách hiểu về khái niệm “năng lực” như sau:

“Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vtrong một bối cnh cthể[9].

“Năng lực là các kĩ năng và khả năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể hc được... để gii quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dng thành công và có trách nhiệm các gii pháp... trong những tình huống thay đổi” [9].

Có thể nhận thấy điểm chung cốt lõi ca các cách hiểu trên về khái niệm “năng lực” chính là khả năng vận dng kiến thức, kĩ năng và thái độ để gii quyết một tình huống có thực trong cuộc sống.

Từ đó chúng ta có thể nhận định năng lực ca hc sinh phổ thông chính là khả năng vận dng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vhc tập, gii quyết có hiệu qunhững vấn đề có thực trong cuộc sống ca các em.

2.2. Khái niệm đánh giá theo năng lực

Như chúng ta đã biết, trong dy hc tích cực đánh giá là một yếu tố vô cùng quan trng, gắn liền với hoạt động dy và hc, có tác dụng điều chnh và nâng cao chất lượng dy và hc.

Theo quan niệm truyền thống, đánh giá chỉ là đánh giá một chiều: giáo viên đánh giá học sinh và việc đánh giá thường chỉ được thực hiện chyếu dựa vào điểm số ca các bài kiểm tra cuối kì hoặc điểm số ca các bài kiểm tra một tiết. Theo quan điểm dy hc tích cực thì việc đánh giá phi diễn ra đa chiều: kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò, có thể tham chiếu thêm sự đánh giá lẫn nhau giữa trò và trò. Việc đánh giá nên được diễn ra thường xuyên, liên tc trong suốt quá trình hc chứ không chmang tính chất định kì như kiểm tra hc kì hoặc giữa kì. Ở một mức độ cao hơn, giáo viên cần tạo điều kiện để hc sinh tự đánh giá không chỉ bằng điểm số mà phn hồi li cho giáo viên những nỗ lực, quá trình phấn đấu và kết qumà mình đạt được. Chừng nào chúng ta chưa nhìn nhận đánh giá phải là một quá trình song song và xuyên suốt quá trình hc ca hc sinh thì chừng đó chúng ta chưa giải quyết được việc giáo viên và hc sinh đối phó trong thi cử để đạt được điểm số cao và thm ha hc vt, hc tcũng không bao giờ chấm dứt được.

Điều quan trọng hơn cả khi đánh giá theo năng lực học sinh chính là đánh giá khả năng vận dng, thực hiện các nhiệm vcthể, thực tế... và phát triển tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá) của hc sinh chứ không dừng li ở mức độ đánh giá phân hóa riêng rẽ các phương diện kiến thức, kĩ năng, thái độ.

Một yêu cầu tất yếu là khi chúng ta chuyển mục đích dạy hc sang phát triển năng lực của người hc thì việc đánh giá cũng phải là đánh giá theo năng lực ca người học. Bước đầu làm rõ khái niệm đánh giá theo năng lực chúng ta có thể xem xét nó trong mối quan hệ với đánh giá theo kĩ năng. Đánh giá trên cơ sở kĩ năng lđánh giá một kĩ năng độc lập nào đó của hc sinh, có thể là kĩ năng tổng hợp (nghe, nói, đọc, viết, giao tiếp, thuyết trình...) hoặc kĩ năng ca từng lĩnh vực cthể như (kĩ năng lí luận, kĩ năng giải toán...). Trong khi đó năng lực là một thể thống nhất bao gồm kiến thức, kĩ năng và thái độ không tách biệt lẫn nhau. Do đó đánh giá theo năng lực là việc đánh giá dựa trên khả năng thực hiện một nhiệm vụ ở một mức độ phức tp thích hợp để tìm ra cách gii quyết một hoặc nhiều vấn đề để đạt tới mục tiêu có được kiến thức có thể áp dng trong nhiều tình huống phức tp khác nhau trong thực tế cuộc sống.

Theo Nguyễn Công Khanh thì “đánh giá hc sinh theo cách tiếp cận năng lực là đánh giá theo chuẩn về sn phẩm đầu ra... nhưng sản phẩm đó không chỉ là kiến thức, kĩ năng mà chyếu là khả năng vận dng kiến thức, kĩ năng và thái độ cần có để thực hiện nhiệm vhc tập đạt tới một chuẩn nào đó” [8]. Như vậy, đánh giá theo năng lực hc sinh theo cách hiểu này đòi hi phải đáp ứng hai điều kiện chính là: phi có sn phẩm đầu ra và sn phẩm đó phải đạt được một chuẩn nào đó theo yêu cầu.

Trong công trình nghiên cứu “Đánh giá kết quhc tập môn Ngữ Văn của hc sinh theo hướng hình thành năng lực” ca nhóm tác gi: Nguyễn ThHồng Vân, Phạm Bích Đào, Nguyễn Tuyết Nga và Nguyễn Thúy Hồng (Viện nghiên cứu Giáo dc Việt Nam) về mặt lí luận có thể xác định hai cách tiếp cận chính về đánh giá

kết quhc tập:

1/ Đánh giá dựa theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dc phổ thông, cách đánh giá này thiên về đánh giá tiếp nhận nội dung chương trình môn hc;

2/ Đánh giá dựa vào năng lực: thiên về xác định mức độ năng lực của người hc so với mục tiêu đề ra ca môn hc. Khi đánh giá theo hướng năng lực cũng vẫn phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, knăng của môn học để xác định các tiêu chí thể hiện năng lực của người hc, tuy nhiên do năng lực mang tính tổng hợp và tích hợp nên các chuẩn kiến thức, kĩ năng cần được tổ hợp li trong mối quan hệ nhất quán để thể hiện được các năng lực ca người hc, đồng thời cần xác định những mức năng lực theo chuẩn và cao hơn chuẩn để tạo được sự phân hóa, nhằm đo được khả năng và sự tiến bộ ca tất cả đối tượng người hc [6].

Như vậy, công trình nghiên cứu này cũng xác định đánh giá theo năng lực hc sinh cần phi dựa vào mục tiêu đề ra ca môn hc và phi đánh giá năng lực dựa trên một chuẩn nhất định để phân hóa và đánh giá được năng lực ca tất cả các đối tượng hc sinh.

Nhìn chung, chúng ta có thể hiểu: Một là, đánh giá theo năng lực không chlà đánh giá việc thực hiện nhiệm vhc tập ca hc sinh mà phải hướng tới việc đánh giá khả năng vận dng kiến thức, kĩ năng và thái độ ca học sinh để thực hiện nhiệm vhc tập theo một chuẩn nhất định. Hai là, đánh giá theo năng lực phi dựa trên việc miêu trõ một sn phẩm đầu ra cthể mà chai phía giáo viên và học sinh đều biết và có thể đánh giá được sự tiến bộ ca hc sinh dựa vào mức độ mà các em thực hiện sn phẩm.

Từ những yêu cầu cơ bản vừa nêu của đánh giá theo năng lực, bên cnh việc miêu trõ ràng cho hc sinh biết về sn phẩm đầu ra, điều hết sức quan trng mà giáo viên cần làm là xác lập một tiêu chuẩn nhất định để đánh giá năng lực hc sinh thông qua việc thực hiện sn phẩm đó. Trong lĩnh vực giáo dục thang độ tư duy được xem là nền tảng để xây dựng nên các mục tiêu giáo dục, xây dựng chương trình, hệ thống hoá hệ thống câu hỏi, bài tập, bài kiểm tra cũng như đánh giá quá trình học tập của học sinh. Hiện nay giáo dục Việt Nam đã bắt đầu ứng dụng thang đo các cấp độ tư duy của Bloom để xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá năng lực học tập của học sinh.

2.3. Các năng lực có thể  được đánh giá của học sinh thông qua hình thức đánh giá theo năng lực

2.3.1. Các năng lực chung cốt lõi

  • - Năng lực hợp tác

  • - Năng lực giao tiếp

  • - Năng lực tìm kiếm, tổ chức, xử lí

    thông tin

  • - Năng lực sử dng công nghệ

  • - Năng lực phát hiện và gii quyết vấn

    đề, đặc biệt là năng lực đối phó với các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống

2.3.2. Các năng lực chuyên biệt ca môn Ngữ văn
  • - Năng lực sử dng tiếng Việt

  • - Năng lực tiếp nhận văn bản (năng lực đọc văn)

    - Năng lực to lập văn bản (năng lực làm văn)

3. Một số hình thức đánh giá năng lực Ngữ văn dựa trên hình thức dy hc dự án và hồ sơ học tập ca hc sinh
3.1. Hình thức đánh giá thông qua một dự án hc tập

3.1.1. Cơ sở đề xuất: Hình thức dy hc dự án (Project-based learning).

Nói một cách đơn giản, dy hc dự án là một hình thức dy hc lấy hoạt động ca học sinh làm trung tâm, hướng hc sinh đến việc lĩnh hội kiến thức và kĩ năng thông qua việc đóng một hay nhiều vai để gii quyết vấn đề (gi là dự án) mô phng những hoạt động có thật ca xã hội chúng ta (mà những hoạt động này giúp hc sinh thấy kiến thức cần hc có ý nghĩa hơn).

Bn chất ca dy hc dự án là hc sinh lĩnh hội kiến thức và kĩ năng thông qua quá trình gii quyết một bài tập tình huống gắn với thực tiễn - dự án. Kết thúc dự án scho ra sn phẩm và sn phẩm đó sẽ được đánh giá dựa trên phiếu đánh giá do người to ra sn phẩm son tho, có sự kết hợp đánh giá giữa giáo viên và hc sinh.

Mc tiêu ca dy hc dự án là hướng tới các vấn đề ca thực tiễn, gắn kết nội dung hc với cuộc sống thực tế; phát triển cho hc sinh kĩ năng phát hiện và gii quyết vấn đề; kĩ năng tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá...) từ các nguồn thông tin, tư liệu thu thập được; cho phép hc sinh làm việc “một cách độc lập” để hình thành kiến thức và cho ra những kết quthực tế; nâng cao kĩ năng sử dng công nghệ thông tin trong quá trình hc tập và to ra sn phẩm. Nói cách khác mc tiêu ca một dự án là để hc nhiều hơn về một chủ đề chứ không phi là tìm ra những câu trlời đúng cho những câu hỏi được giáo viên đưa ra.

Như vậy, từ trong khái niệm, bn chất và mc tiêu, dự án là một hình thức phù hợp, một căn cứ tin cậy để giáo viên đánh giá năng lực chung và năng lực Ngữ văn của hc sinh thông qua sn phẩm đầu ra cũng như quá trình các em tham gia vào dự án.


3.1.2. Các năng lực được đánh giá

Với hình thức đánh giá thông qua dy hc dự án, giáo viên có thể đánh giá các năng lực chung chyếu như: năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, năng lực gii quyết vấn đề... và với riêng môn Ngữ văn, giáo viên có thể đánh giá được chyếu là năng lực sử dng tiếng Việt và năng lực to lập văn bản ca hc sinh thông qua sn phẩm đầu ra ca dự án.

3.1.3. Quy trình đánh giá dự án hc tập

Bước 1: Giáo viên lựa chn dự án, xác định mc tiêu ca dự án và giao nhiệm vcthể cho hc sinh.

Bước 2: Giáo viên mô tcthể về sn phẩm đầu ra.

Bước 3: Thống nhất với hc sinh về thang điểm đánh giá cho sản phẩm. Thang điểm đánh giá cần dựa vào mc tiêu ca dự án và thang nhận thức ca Bloom. Thang điểm đánh giá phải được giáo viên và hc sinh cùng son thảo, đảm bảo hai bên đều hiểu rõ và có thể sử dụng được.

Bước 4: Hc sinh thực hiện dự án và trình bày sn phẩm ca mình.

Bước 5: Giáo viên và hc sinh cùng đánh giá sản phẩm dựa trên chuẩn đánh giá đã thống nhất.

Bước 6: Đánh giá kết luận về mức độ thể hiện các năng lực cần đạt thông qua dự án ca hc sinh.

Hình thức đánh giá năng lực thông qua dự án là một hình thức rất phù hợp đối với môn Ngữ văn cũng như đối với những yêu cầu cơ bản của đánh giá theo năng lực. Hiện nay ở nhà trường phổ thông, phương pháp dy hc dự án đã trở nên quen thuộc, tuy nhiên theo tìm hiểu ca chúng tôi, việc đánh giá năng lực ca hc sinh dựa trên dự án vẫn còn được áp dng khá dè dặt. Đa số giáo viên chtổ chức dy hc dự án một lần một hc kì và xem đó như là một hình thức hoạt động ngoại khóa hơn là một căn cứ để đánh giá các năng lực Ngữ văn của hc sinh trong suốt hc kì hay cả năm học. Vì thế chúng tôi đề xuất cần đẩy mạnh hơn nữa việc áp dng hình thức đánh giá năng lực thông qua dự án hc tập vào bộ môn Ngữ văn trong nhà trường Trung hc phổ thông.


3.2. Hình thức đánh giá thông qua hồ sơ hc tập ca hc sinh
3.2.1. Khái niệm và các tiêu chí cho việc đánh giá hồ sơ hc tập

3.2.1.1. Khái niệm hồ sơ học tập
“H
ồ sơ học tập ca hc sinh là một bộ sưu tập có mục đích và có tổ chức những công việc ca học sinh, được tích lũy trong suốt một thời gian và thể hiện sự nỗ lực, tiến trình ca hc sinh và những gì các em đạt được” [5].

Nhận xét: Từ khái niệm trên chúng ta nhận thấy giáo viên có thể sử dng hình thức này để đánh giá sự trưởng thành về mặt năng lực ca hc sinh cũng như toàn bộ quá trình hc tập ca các em bằng những công việc các em đã hoàn thành và sn phẩm đầu ra cuối cùng.


3.2.1.2. Các tiêu chí cho việc đánh giá hồ sơ học tập

Cũng như hình thức dự án hc tập, hồ sơ học tập ca hc sinh cũng cần được xác lập những tiêu chí cthể cho việc đánh giá. Tổ chức giáo dục Intel đề xuất khi thiết lập các tiêu chí cho việc đánh giá hồ sơ học tập, giáo viên nên tho luận với hc sinh các vấn đề sau [5]:

- Liệu rằng hồ sơ của em có thể hiện sự trưởng thành hoặc sự thay đổi nào trong suốt thời gian hc tập và có chứng minh được em đã tiến bộ hay không?

- Hồ sơ học tập ca em có bao gồm toàn bộ những gì em đã làm và đã hoàn thành hay không?

- Hồ sơ học tập ca em có bao gồm những phn ánh có suy nghĩ về thành tích đạt được và quá trình hc tập không?

- Hồ sơ học tập ca em có bao gồm mc tiêu cho việc hc sắp tới không?

- Hồ sơ học tập của em có lượng thông tin thích đáng không?

- Hồ sơ học tập ca em có thể hiện chất lượng các công việc đa dạng em đã làm không?

- Hồ sơ học tập ca em có bao gồm sự đa dạng thích hợp trong mỗi loi thành phần ca hồ sơ không?”

Nhận xét: Từ danh mc các tiêu chí trên chúng ta nhận thấy nếu đánh giá một năng lực nào đó của hc sinh dựa trên một bộ hồ sơ học tập cthể ca các em thì lợi ích thứ nhất là giáo viên có thể nhìn thấy được cquá trình phấn đấu trưởng thành ca hc sinh, sự hoàn thiện năng lực ca các em được thể hiện cthể qua sn phẩm ca từng giai đoạn. Lợi ích thứ hai là giáo viên có thể thu thập được phn hồi ca hc sinh từ những lời tự đánh giá của các em về công việc ca mình. Lợi ích thứ ba là hồ sơ học tập có thể giúp giáo viên đánh giá được năng lực tư duy bậc cao ca hc sinh, tính sáng to, khả năng làm việc độc lập... ca các em.


3.2.2. Hồ sơ đọc và hồ sơ bài viết – những hình thức đánh giá năng lực Ngữ văn của hc sinh
3.2.2.1. H
ồ sơ đọc – hình thức đánh giá năng lực tiếp nhận văn bản ca hc sinh

Như chúng ta đã biết, đọc hiểu văn bn theo loi thể là một yêu cầu cơ bản đối với việc dạy đọc hiểu văn bản cho hc sinh. Ở bậc trung hc phổ thông hc sinh được tiếp cận một số thể loại cơ bản như thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút, kch,... với một số tiết nhất định theo quy định. Xem xét chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn (bộ cơ bản) lớp 10, 11, 12 chúng ta thấy số lượng văn bản quy định cho từng thể loi là không nhiều. Vì lẽ đó, theo chúng tôi, để học sinh có cơ hội vận dng nhuần nhuyễn các cách thức tiếp cận văn bản theo loi thể cũng như tạo lập một cơ sở để đánh giá năng lực tiếp nhận văn bn ca hc sinh, chúng ta cần khuyến khích mỗi hc sinh tự xây dựng một hồ sơ đọc cho riêng mình. Hồ sơ đọc này có thể là một hồ sơ lưu trữ tất ctài liệu đọc độc lập của các em. Nó được học sinh dùng để chuẩn bbài mới, ghi chép li nhận xét ca các em về từng bài hc trong sách giáo khoa, hoặc ở mức độ cao hơn là đọc những tác phẩm bên ngoài sách khoa (theo gợi ý ca giáo viên hoặc theo sở thích cá nhân ca hc sinh). Hình thức cthể ca hồ sơ đọc cần được giáo viên hướng dẫn cho hc sinh và đảm bo tất cả các em đều hiểu và có thể làm được. Chẳng hạn như giáo viên có thể thực hiện một hồ sơ đọc mẫu một văn bản truyện gồm có các đề mc chính như: cốt truyện, tình huống truyện, hệ thống nhân vật, nghệ thuật kể chuyện, lời văn nghệ thuật,... Sau đó giáo viên cho học sinh tham kho, cùng tho luận với hc sinh yêu cầu ca từng đề mc cũng như cách thức đọc hiểu văn bản để hoàn thành từng đề mc ca hồ sơ đọc.

3.2.2.2. Hồ sơ bài viết – hình thức đánh giá năng lực to lập văn bản ca hc sinh

Một hc kì theo quy định hc sinh Trung hc phổ thông phi viết tử 4 - 5 bài viết. Thông thường sau khi nộp bài cho giáo viên và được phn hồi bằng điểm số thì hc sinh không còn quan tâm đến bài kiểm tra đó nữa. Thậm chí nhiều em còn không hiểu vì sao mình được hay bị điểm số như vậy. Vì thế năng lực to lập văn bản (năng lực làm văn) của các em hầu như không được chính bn thân các em quan tâm hay nói cách khác chính chthể cũng không nhận thức và đánh giá được năng lực ca chính mình. Hậu qulà trong suốt quá trình hc ở phổ thông, mặc dù được hc rất nhiều về các kĩ năng, quy trình, cách thức to lập văn bản nhưng năng lực viết ca các em không tiến bộ bao nhiêu, nguy hiểm hơn nữa là khi phải đối mặt với các tình huống thực tế các em không thể viết được một văn bản đáp ứng được yêu cầu. Vì lẽ đó, một hồ sơ theo dõi sát sao quá trình to lập các loại văn bản được dy trong sách giáo khoa cũng như sự tiến bộ của chính người hc trong suốt hc kì hoặc cả năm học là việc cần thiết. Một điều quan trng cần lưu ý là giáo viên không chxem hồ sơ bài viết này như một phn hồi ca người hc mà còn phải xác định rõ với hc sinh nó là một căn cứ để đánh giá năng lực to lập văn bản ca các em. Theo hình thức đánh giá này, hồ sơ bài viết sẽ được giáo viên xem xét và tho luận với từng hc sinh mỗi cuối hc kì để đánh giá mức độ phát triển ca các em. Giáo viên cũng có thể sử dng kết quả đánh giá này như một cột điểm ca bài viết 1 tiết hoặc 2 tiết. Dĩ nhiên ưu thế ca hình thức đánh giá này so với kiểu bài viết truyền thống thể hiện rất rõ ở chỗ giáo viên có thể đánh giá cả quá trình hc ca hc sinh, cthể hơn là sự tiến bộ ca hc sinh qua từng bài viết.

Quy trình thực hiện việc đánh giá hồ sơ bài viết có thể tiến hành như sau:

- Vào đầu hc kì, giáo viên thông báo cho hc sinh biết số lượng bài viết các em cần thực hiện trong suốt hc kì. Căn cứ vào đó học sinh sbiết số lượng bài viết tối thiểu các em cần thực hiện trong hồ sơ bài viết.

- Sau đó, trước mỗi bài viết (trước đây là bài kiểm tra) giáo viên cần xác định rõ yêu cầu ca bài viết, tiêu chuẩn đánh giá để làm căn cứ thực hiện cho hc sinh.

- Sau khi hc sinh thực hiện bài viết đầu tiên, giáo viên có thể xem xét và ghi li lời đánh giá cho học sinh. Lời nhận xét này cần bao gồm hai phần: phần ưu điểm cần phát huy và phần nhược điểm cần khắc phc trong những bài viết sau thật ngắn gn và rõ ràng. Ở giai đoạn này giáo viên có thể cho điểm để hc sinh dễ dàng biết được mức độ năng lực ca mình hoặc không cho điểm tùy theo mục đích riêng.

- Ở bài viết thứ hai, giáo viên cũng tiến hành thao tác nhận xét tương tự. Tuy nhiên ở bước này giáo viên cần so sánh bài viết này với bài viết trước để hc sinh nhận ra sự tiến bộ (hoặc gim sút) ca mình qua từng bài viết.

- Lần lượt như thế suốt chc kì, giáo viên scó phần tổng kết nhận xét sự tiến bộ ca hc sinh qua từng bài viết. Tự bn thân mỗi hc sinh cũng sẽ đánh giá được năng lực ca mình. Và kết quả đánh giá cuối cùng có thể là trung bình cộng ca tất ccác bài viết hoặc trung bình cộng đánh giá ca giáo viên và tự đánh giá của hc sinh. Với lớp ít hc sinh (khong từ 15 đến 20 hc sinh) và học sinh đã quen với việc tự đánh giá năng lực to lập văn bản ca mình, giáo viên có thể tham kho thêm kết quả đánh giá lẫn nhau ca hc sinh.

4. Kết luận

Như đã trình bày ở trên, khái niệm “đánh giá theo năng lực” vốn không mới nhưng hình thức đánh giá này vẫn còn khá mới mẻ và được áp dng khá dè dặt ở Việt Nam. Tuy nhiên chúng tôi thiết nghĩ chưa lúc nào như bây giờ, khi giáo dc Việt Nam đang chuyển mình theo hướng tích cực, tập trung phát triển năng lực ca người hc, thì hình thức đánh giá dựa trên năng lực của người hc trở thành một yêu cầu tất yếu. Đánh giá theo năng lực cần đảm bo hai yêu cầu cơ bản là: phi có sn phẩm đầu ra và sn phẩm đó phải đáp ứng yêu cầu theo một chuẩn nhất định.

Ở trung hc phổ thông, năng lực Văn ca hc sinh có thể được hiểu là năng lực sử dng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bn và to lập văn bản. Để đánh giá các năng lực này chúng tôi đề xuất hai hình thức đánh giá là đánh giá thông qua dự án hc tập và đánh giá thông qua hồ sơ học tập ca hc sinh. Hai hình thức đánh giá này đều có cơ sở là dựa trên những hình thức dy hc tích cực đã và đang phát huy tác dng ở nhà trường phổ thông. Điểm giống nhau ca hai hình thức đánh giá năng lực này là chúng đều bao quát được cquá trình hc cũng như sự trưởng thành ca hc sinh vì thế năng lực của các em được đánh giá chính xác hơn. Hơn thế nữa, chúng còn là các hình thức đánh giá dân ch, bình đẳng giữa thầy và trò, là một cuộc đối thoi thật sự để giáo viên và hc sinh thấu hiểu và đáp ứng được kì vng ca nhau. Vì dung lượng hn hp ca bài báo nên chúng tôi chưa thể đưa ra những mẫu đánh giá cụ thể cho từng hình thức đánh giá đđề xuất. Chúng tôi stiếp tc trình bày vấn đề này trong một bài viết khác.

Tầm quan trng ca kiểm tra đánh giá đối với hoạt động giáo dc từ lâu đđược công nhận, chẳng hạn như ý kiến sau: “Nếu muốn biết thực chất ca một nền giáo dc, hãy nhìn vào cách đánh giá của nền giáo dục đó.” [6] Mặc dù áp dng một hình thức kiểm tra đánh giá mới vào quá trình dy hc vốn không bao giờ là việc dễ dàng nhưng với những lợi ích và hiệu quto lớn mà hình thức đánh giá theo năng lực này có thể mang li thiết nghĩ xứng đáng để chúng ta thể nghiệm.

 

(*) Th.S, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Tp. HCM

TÀI LIỆU THAM KHO

  1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Chuyên đề bồi dưỡng giáo viên Trung hc phổ thông môn Ngữ văn, Nxb Đại hc Quốc gia, Hà Nội.

  2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Chuyên đề bồi dưỡng về đổi mới phương pháp dạy hc và phương pháp kiểm tra đánh giá cho giáo viên bổ túc Trung hc phổ thông, Nxb Đại hc Quốc gia, Hà Nội.

  3. Nguyễn Kim Dung (2012), “Thực trng công tác kiểm tra, đánh giá kết quhc tập ở một số trường trung hc phổ thông ti Thành phố Hồ Chí Minh, Tp chí khoa hc Giáo dc (số 39), TPHCM.

  4. Dương Thiệu Tống (2005), Trắc nghiệm và đo lường thành quhc tập (Phương pháp thực hành), Nxb Khoa hc xã hội.

  5. http://www.dayhocintel.net

  6. http://www.ier.edu.vn

  7. http://www.moe.gov.tt/

  8. http://www.vnies.edu.vn/

  9. http://www.vvob.be/vietnam

Nguồn: Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM, số 56 năm 2014

 
ĐỘNG HÌNH MỚI CỦA VĂN XUÔI CHIẾN TRANH QUA NHỮNG PHÁC THẢO RỜI PDF. In Email
Chủ nhật, 03 Tháng 5 2020 16:04

ĐỘNG HÌNH MỚI CỦA VĂN XUÔI CHIẾN TRANH QUA NHỮNG PHÁC THẢO RỜI

BÙI THANH TRUYỀN(*)

1. Cảm quan mới trong sinh quyển mới

Khép lại cái nhìn nặng màu sắc chính trị hóa, lí tưởng hóa theo kiểu phân tuyến ta - địch, thắng – thua, chính nghĩa – phi nghĩa của văn học cách mạng, độ lùi thời gian cùng với những thay đổi trong sinh quyển văn hóa, xã hội giúp người viết lật trở, chiêm nghiệm chiến tranh từ lăng kính nhân văn, nhân bản gắn với những giá trị phổ quát của nhân loại. Chiến tranh hiện hình trên trang viết hôm nay chủ yếu từ cảm quan của nỗi buồn, của những suy tư, trăn trở trước quá khứ, hiện tại và cả tương lai của “mình” và “họ”. Con người, qua cuộc chiến, với đầy những bầm dập, thương tổn, những dư chấn nặng nề cả thể xác lẫn tâm hồn, vì thế “không một ai muốn mình sẽ tiếp tục là một con số cộng thêm trong phép thống kê xương máu” (Chiến tranh và phép thống kê - Bích Ngân). Hiện thực chiến tranh và hậu chiến đâu còn là “chiếc ráng chiều quá đẹp” như cách ví von của Nguyễn Minh Châu mà xám một màu buồn rợn bởi những đau thương, mất mát, những mảng sáng tối xô bồ khiến không ít quân nhân, thường nhân cả hai bên chiến tuyến – những người đã bị chiến tranh vô tình hay cố ý kéo vào – đều không khỏi bang hoàng, suy sụp, thậm chí mất khả năng sống bình thường.

Nỗ lực hiện đại hóa văn xuôi của đội ngũ nhà văn hôm nay thể hiện rõ nhất ở chỗ họ mạnh dạn đi vào những cạnh khía nhạy cảm của chiến tranh với cái nhìn trực diện, phản tỉnh. Đó là những trang viết lạ lẫm, đầy ám ánh nhưng cũng nhiều mê hoặc về đề tài da cam (Tiếng lục lạc – Nguyễn Quang Lập, Mười ba bến nước – Sương Nguyệt Minh, Cơ bản là buồn – Nguyễn Ngọc Thuần,…). Hai cuộc chiến tranh biên giới cũng là hai thỏi nam châm xoáy hút tâm lực, bút lực của người viết. Hơn ba thập niên, nhất là khoảng thời gian gần 20 năm đầu thế kỉ XXI, xuất hiện hàng loạt tiểu thuyết viết về chiến tranh biên giới Tây Nam: Dòng sông của Xô Nét (Nguyễn Trí Huân), Chiến tranh không phải trò đùa (Khuất Quang Thụy), Dòng sông nước mắt (Thanh Giang), Biên giới, Bên rừng thốt nốt, Đất không đổi màuNgười đàn bà khóc mướn (Nguyễn Quốc Trung), Ngôi chùa ở Pratthana, Khoảng rừng có những ngôi sao (Văn Lê), Thế giới xô lệch (Bích Ngân), Bên dòng sông Mê (Bùi Thanh Minh), Miền hoang (Sương Nguyệt Minh), Hoang tâm (Nguyễn Đình Tú), Mùa xa nhà (Nguyễn Thành Nhân), Rừng đói (Nguyễn Trọng Luân), Chuyện Lính Tây Nam (Trung Sỹ), Mùa chinh chiến ấy (Đoàn Tuấn), Viết từ hành tinh kí ức (Võ Diệu Thanh)…; chiến tranh biên giới phía Bắc: Xác phàm (Nguyễn Đình Tú), Mình và họ (Nguyễn Bình Phương),...

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những nhà văn trải nghiệm nó, dù trực tiếp hay gián tiếp, cũng luôn cảm thấy mình mắc nợ những ân ưu ngày cũ. Dư âm, dư chấn của cuộc chiến cứ mãi đeo đẳng, khiến họ phải viết ra để nhớ lại, sống lại một thời gian khổ, bi tráng mà bản thân, bạn bè, dân tộc đã sống qua. Chuyện Lính Tây Nam được Trung Sỹ viết trong tâm thế vượt lên chính mình: trực diện nhìn lại cuộc chiến tranh trên đất Campuchia để soi rọi một thời bi hùng của thế hệ, đất nước mình, để đưa ra ánh sáng sự thật trần trụi của cái lò lửa địa ngục phi nhân ấy. Bằng cái nhìn của người trong cuộc, người đi qua ngoái lại, nhà văn đã khiến chúng ta kinh ngạc bởi hiện thực đa chiều, chân thực, tươi nguyên và sinh động đến rùng mình về một chiến trường K còn ít được biết đến trong văn học, khá xa lạ với độc giả trong và ngoài nước, vì thế có sức lay động lớn. Dù không gọi đích danh, nhưng lần đầu tiên trong văn học chính thống, quân xâm lược phương Bắc cũng đã được điểm mặt chỉ tên. Đó là bọn Khựa (Mình và họ), là giặc Khợ (Xác phàm). Cả hai cách gọi này đều cho thấy thái độ căm thù, khinh bỉ của tác giả trước hành động bất nhân, phi nghĩa của kẻ thù, đồng thời tạo một khoảng cách vừa đủ để hiện thực lịch sử với hiện thực văn chương soi chiếu lẫn nhau nhưng không trùng khít lên nhau. Dụng ý nghệ thuật đó giúp người viết tự do thể nghiệm, sáng tạo và tỏ bày những suy cảm về lịch sử, về nhân sinh, thế cuộc.

Là một cô giáo trẻ, sinh ra và lớn lên ở An Giang – nơi chịu nhiều tổn thất, tang thương do Khmer Đỏ gây ra, từ một “kẻ ngoại cuộc”, Võ Diệu Thanh đã vô tình bị đẩy vào cuộc chiến. Tác giả trải nghiệm chiến tranh qua lời kể của những nạn nhân trong cuộc thảm sát Ba Chúc (Tri Tôn): chị Sương, cô Năm Chậm, mợ Tám, cô Tư Chỉnh, chú Tư Long, anh Út Nam, thím Ba Tệt,… tất cả đều chịu những sang chấn tâm lí nặng nề, dai dẳng từ nạn diệt chủng kinh hoàng cách đây gần bốn thập kỉ. Bằng cách viết đầy tính chất “điền dã” của văn học dân gian, tội ác man rợ của Pol Pot phơi bày trong cuốn sách Viết từ hành tinh kí ức khách quan, chân thực đến đáy. Có cảm giác người viết luôn bị giằng xé giữa nhiều thái cực, trạng huống đối lập: lãng quên - hoài nhớ, ám ảnh – an yên, căm phẫn – tha thứ… để rồi cuối cùng phải chọn một giải pháp trung dung: hòa đồng, cộng cảm lòng mình với tâm tình của người trong cuộc, đưa tất cả phức hợp nhận thức, tình cảm ấy lên trang giấy một cách chân xác, không tô vẽ, phóng đại, để quá khứ phục sinh trong hiện tại dưới một hình hài khác, qua một lăng kính khác. Đó cũng là cách tác giả tự đối diện, tự giải quyết những xung đột, mâu thuẫn trong lòng mình, tự trả lời những câu hỏi, những nợ nần của quá khứ, làm người hòa giải quá khứ và hiện tại. “Mấy mươi năm đã qua, tôi ôm những miền kí ức của ai? Không phải của tôi, mà sao nặng nề quá đỗi. Nó thường đáo lại trong tôi qua cơn ác mộng, ví như một cuộc tử hình, một cuộc đối đầu trực diện và xả súng vào nhau. Như chính tôi là người làm nên những đau đớn đó”. Bằng cách ấy, người viết cũng đã giải huyền thoại về sự đau thương mà vĩ đại, vô danh mà trường cửu của dân tộc mình: “Thành ngữ có câu tấc đất tấc vàng, tôi cảm giác tấc đất là tấc hồn máu xương của nhiều đời nhiều kiếp người xưa và cả người nay. Chính những tích tụ đó làm nên linh hồn của từng vùng đất, để dẫu cho binh biến hãi hùng hay thiên nhiên khắc nghiệt, con người vẫn cứ muốn sống ngay trên chính mảnh đất quê hương mình”. Tâm cảm, động lực cầm bút của nhà văn miền Tây Nam Bộ này có nhiều điểm tương đồng với Bảo Ninh trong tuyệt phẩm Nỗi buồn chiến tranh gần 30 năm trước. Đây là minh chứng về sức sống của đề tài, tính truyền thống và hiện đại của văn học chiến tranh trong văn mạch dân tộc. Sáng tác của Võ Diệu Thanh, Nguyễn Ngọc Tư cùng với đó là những thế hệ trẻ hơn nhiều (Nguyễn Thị Kim Hoà với Đỉnh khói, Trần Thị Tú Ngọc với Ngụ ngôn tháng tư, Huỳnh Trọng Khang với Mộ phần tuổi trẻ, Văn Thành Lê với Vỏ anh hùng,…) đã đề xuất, bổ sung vào kinh nghiệm chiến tranh, kinh nghiệm viết, đọc của thế hệ đi trước, kiến tạo bản sắc cho thế hệ mình [xem 3, tr.3 - 10]. Sự tiếp nối đội ngũ: những người cầm bút trong thời chiến, những tác giả trưởng thành thời bao cấp, thời đổi mới, lớp nhà văn thành danh đầu thế kỉ XXI cho thấy chiến tranh vẫn còn là miền đất giàu tiềm năng, hứa hẹn nhiều khởi sắc cho văn học nước nhà.

Những sáng tác của đội ngũ nhà văn ở hải ngoại về đề tài chiến tranh cũng mang lại sinh khí mới cho văn học đương đại. Có thể quan điểm, thái độ của người viết chưa được số đông đồng thuận; nhưng những tình cảm chân thật, lối viết mới mẻ về cuộc chiến trong quá khứ của họ là điều đáng trân trọng, giúp các tác giả trong nước có điều kiện đối chứng để thay đổi cách nhìn, cách viết. Tập truyện Người tị nạn của Viet Thanh Nguyen, một người Mĩ gốc Việt, sau nhiều trắc trở, cũng đã được Nhà xuất bản Hội Nhà văn phát hành vào đầu năm 2018 là một minh chứng. Cuốn sách như là chứng nhân cho một thời đoạn lịch sử mà mỗi người Việt Nam dù ở đâu cũng không được quyền quên lãng.

Sự chuyển hướng trong cảm hứng, cùng với đó là bút pháp, hiện diện ngay từ nhan đề của truyện. Tiểu thuyết: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng, Khúc bi tráng cuối cùng (Chu Lai), Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng), Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân Đức), Tàn đen đốm đỏ (Phạm Ngọc Tiến), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Thế giới xô lệch (Bích Ngân), Người đàn bà trên đảo, Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Mùa hè giá buốt – Văn Lê, Cõi đời hư thực (Bùi Thanh Minh), Được sống và kể lại (Trần Luân Tín), Miền hoang (Sương Nguyệt Minh), Trong cơn lốc xoáy (Trầm Hương), Hoang tâm (Nguyễn Đình Tú), Cơ bản là buồn (Nguyễn Ngọc Thuần), Mộ phần tuổi trẻ (Huỳnh Trọng Khang),… Truyện ngắn: Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Chuyện sót lại ở thung lung Chớp Ri (Nguyễn Quang Lập), Truyền thuyết về Quán Tiên (Xuân Thiều), Ngày xửa ngày xưa (Nguyễn Quang Lập), Đợi bạn (Ngô Tự Lập), Đốm lửa (Nguyễn Thị Minh Thúy), Bến trần gian (Lưu Sơn Minh), Hồn trinh nữ, Người sót lại của Rừng Cười (Võ Thị Hảo), Mười ba bến nước (Sương Nguyệt Minh), Chiều vô danh (Hồng Dân), Vết chim trời (Nguyễn Ngọc Tư), Những người đàn bà mắt đen (Viet Thanh Nguyen), Vỏ anh hùng (Văn Thành Lê),… Tản văn: Nén nhang chung (Dạ Ngân), Nối linh thiêng, Chiến tranh và phép thống kê (Bích Ngân), Không biết gì về chiến tranh (Lê Minh Khôi), Chuyện của em và chiếc túi có tên Việt Nam (Việt Linh)…; Bút kí: Viết từ hành tinh kí ức (Võ Diệu Thanh) v.v. Chúng hợp lực đẩy cái hiện thực sử thi hóa, hồng hóa một thời vào quá khứ, chia tay “cái thời lãng mạn” để đối diện với những đòi hỏi bức thiết của con người, cuộc sống hôm nay. Nhà văn làm một lần vượt cạn không ít đớn đau nhằm đổi lấy cái hạnh phúc lớn lao của nghệ sĩ: được sống và viết bằng chính con người thật của mình. Cách đây 20 năm, nỗ lực vượt qua giới hạn của văn xuôi chiến tranh chính là việc người viết đã quay trở về quá khứ, lịch sử  - một quá khứ, lịch sử đã phần nào minh bạch, hoàn kết – để “sống với vùng sáng kí ức, với kỉ niệm của một thời oanh liệt và hào hùng, thắp lên trong con người ngọn lửa của niềm tin và tình yêu với cuộc sống hôm nay” [4, tr.61], thì với văn học đương hiện, khát vọng làm sáng tỏ những cạnh chiều khuất lấp, tinh thần phản tỉnh, nhận thức lại chiến tranh, về cái giá của hòa bình, độc lập, hạnh phúc là những tư tưởng chủ đạo. Nhà văn soi chiếu hiện thực từ góc nhìn trực diện, đa sắc, đa chiều, đem lại cho sáng tác tính chất đối thoại, đa thanh – những biểu hiện sống động của chất văn xuôi, của tinh thần hậu hiện đại.

2. Sức ám gợi trong lối viết

Vượt qua lối mòn – và cũng là rào cản của bút pháp sử thi – văn xuôi hôm nay nỗ lực lột hiện mặt trái, mặt khuất của chiến tranh với sức hủy diệt, phi nhân, với những di chứng kinh hoàng mà nó để lại. Không còn âm hưởng ngợi ca hào sảng như trong văn học kháng chiến, Miền hoang (Sương Nguyệt Minh) và Hoang tâm (Nguyễn Đình Tú) phác họa bộ mặt thật của cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam với lắm bi ít hùng. Những đoạn văn miêu tả cận cảnh cảnh giết người, cảnh hành hình “thời trung cổ” trong hai tiểu thuyết như những thước phim quay chậm quá sức chịu đựng của người xem. Độc giả rùng mình kinh sợ trước cảnh hành quyết quân tình nguyện Việt Nam, trận thảm sát ở Ba Chúc trong cuốn sách của Sương Nguyệt Minh, hay cái chết đáng thương của những cô du kích Tân Lập trong tác phẩm của Nguyễn Đình Tú. Nhà văn không ngại ngần phơi mở những tổn thương, mất mát, liên tục xoáy sâu vào những nỗi đau khôn xiết của con người nhằm tái hiện khách quan, chân thực một bộ mặt khác của chiến tranh mà diễn ngôn lịch sử, chính trị lâu nay vẫn ít nhiều né tránh.

Trong Xác phàm, chiến tranh cũng hiện lên qua những cảnh tượng thương tâm: “mười sáu nóc nhà chỉ trong vài phút đã tanh bành, tan biến như chưa hề có một bản làng nào tồn tại ở góc núi yên bình ấy”. Có quá nhiều cái chết xảy ra trong thời gian ngắn ngủi khiến người ta tê liệt, không còn đủ sức thể khóc thành tiếng. Mình và họ có đến vài trăm người, cả lính lẫn dân thường, bị giặc Khựa bắt và đem phanh thây tại tử địa mang tên “Thung lũng oan khuất”. Nhiều người bị chôn sống trong những nấm mồ tập thể. Những ngọn núi nát nhừ vì pháo bom, những con đường bị đạn cối đào xới, xác người la liệt khắp nơi, mùi tử khí bao trùm mọi chốn… Nhà văn không ngần ngại “zoom” ống kính để phóng to những cận cảnh rợn người: “sáu cái xác người trần truồng nằm ngay ngắn sát với chân tường bên kia, xác nào cũng bị mổ phanh ra”. Tiểu thuyết của hai nhà văn quân đội này gợi ra những vấn đề có ý nghĩa thời sự và nhân văn sâu sắc, mang đến cho độc giả cái nhìn đầy đủ hơn về cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc, nhắc nhớ con người hôm nay trân trọng hơn cuộc sống, có ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ chủ quyền Tổ quốc.

Mang nỗi ám ảnh và mất mát do chiến tranh gây ra, nhiều nhân vật luôn bị những cơn ác mộng dày vò. Nỗi đau của thể xác và tinh thần khiến cho mạch truyện trong nhiều cuốn tiểu thuyết (Nỗi buồn chiến tranh, Ăn mày dĩ vãng, Gia đình bé mọn, Bến không chồng, Dưới chín tầng trời, Thế giới xô lệch, Rừng thiêng nước trong, Mình và họ, Hoang tâm, Xác phàm,…) bị đảo lộn với nhiều mảnh ghép giữa thực và hư, giữa quá khứ và hiện tại. Dòng ký ức cuồn cuộn làm nổi rõ những đau thương, mất mát không gì bù đắp nổi. Song hành với kí ức chiến tranh, nhiều sáng tác đã nỗ lực tái dựng hiện thực hậu chiến lở lói, bất toàn gây nên không ít sang chấn tinh thần cho con người. Nếu như những bi kịch chiến tranh (mà hi hữu lắm mới được đặc tả) trong văn học cách mạng thường ít xuất hiện gương mặt phụ nữ, trẻ em, thì trong văn xuôi hôm nay, họ hiện diện khá nhiều. Gắn với những nhân vật ngoại biên này, văn xuôi đương đại đã tô đậm thêm bi kịch của chiến tranh, tăng sức nặng của tiếng nói tố cáo, của tinh thần nhân bản.

Đa mang và để lại dấu ấn ở nhiều đề tài, Hồ Anh Thái vẫn dành cho chiến tranh tình cảm, sự quan tâm đặc biệt. Sáng tác của ông thường chọn một lối riêng khi tìm đến những phận người nhỏ bé sau cuộc chiến. Họ là những nữ thanh niên xung phong chống chọi đến kiệt lả trong nỗi cô đơn, trong sự khát khao được làm vợ, làm mẹ (Người đàn bà trên đảo). Chị Giềng (Cõi người rung chuông tận thế) phải sống trong nghèo khó, tủi buồn để rồi ra đi trong đớn đau, vật vã. Với những người như chị, đơn độc giữa trùng vây của cái ác, cái bất công, họ chỉ còn cái quyền lớn nhất – và cũng đáng thương nhất – là “quyền chết”. Thế hệ không trực tiếp ngang qua chiến tranh, nhưng những tổn thất quá lớn của gia đình vẫn chém vào họ một vết chí mạng để không còn được sống bình thường, “giữa đám đông mà cảm thấy đơn côi” (Người và xe chạy dưới ánh trăng).

Nhìn chiến tranh từ lăng kính kì ảo, từ thế giới tâm linh cũng là nét mới dễ nhận thấy và đáng được ghi nhận của văn xuôi hôm nay so với giai đoạn trước đổi mới [xem 5]. Dạng nhân vật siêu thực - những vong hồn liệt sĩ - là một trong những khám phá mới mẻ, táo bạo của người viết trong việc khắc họa chân dung người lính. Điều này thể hiện sự nỗ lực cùng tấm lòng trân trọng của tác giả trên hành trình phát hiện vẻ đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ dù là từ một thế giới khác - thế giới bên kia. Nếu lúc sinh thời, họ là những người đầy nhiệt huyết tuổi trẻ, ra trận với hoài bão độc lập tự do cho quê hương, dân tộc thì khi nhắm mắt xuôi tay, bị kẹt giữa hai cõi âm - trần, khát vọng này vẫn còn cháy bỏng. Không được như bao đồng đội khác hồn có thể quay về quê hương nhờ chết có mồ mả và có người hương khói, các vong hồn thực hiện khát vọng này bằng “những kí ức đằm sâu, thân thương” của mình. Đó là nỗi nhớ Hà Nội của anh lính Phương với những ngày rét mướt, tiếng tàu điện leng keng, người bố dậy tầm bốn rưỡi pha trà, rồi những tên đường, tên phố, Tháp Bút, Đài Nghiêng...; là những kỉ niệm của Lăng về bến sông quê hương, ngôi nhà nhỏ với bóng dáng mẹ già cô đơn mà phúc hậu. Thêm vào đó là những khắc khoải chờ đợi phút giây hòa bình, đợi chờ ngày trở về được đo bằng những chỉ số thời gian xác định hoặc không xác định: Anh lính Phương và cô gái giao liên thì “có mặt trên đời hai mươi năm. Và hai mươi năm chờ đợi”, ông già thời Chín năm “đã ngụ trong hang dơi gần nửa thế kỉ” (Tàn đen đốm đỏ). Còn Lăng trong Bến trần gian xoáy vào cõi lòng người đọc bởi cái điệp khúc “mấy chục năm... mấy chục năm rồi...” cồn cào cháy ruột: “Anh đã đi mấy chục năm mà vẫn luẩn quẩn trong rừng”, “mấy chục năm rồi, nhanh lên, tôi không thể đứng đây được nữa”, “xin đừng đưa tôi về xứ của ma, tôi còn phải về thăm u, mấy chục năm rồi...” v.v. Nỗi nhớ mong như có hình khối, nó bất chấp sự quên lãng của thời gian, sự khắc nghiệt của kiếp vong hồn. Và nhân vật cũng không còn mờ mờ nhân ảnh mà hiện hữu như một người lính bằng xương bằng thịt, như Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng vãng), Kiên (Nỗi buồn chiến tranh), họ góp thêm một cái nhìn chân thực và đầy xúc động về người lính, về những cuộc chiến tranh giữ nước thần thánh của dân tộc.

So với văn học giai đoạn 1945 - 1985, văn xuôi về chiến tranh hôm nay thường nói nhiều hơn đến nỗi đau, đến mất mát của từng cá nhân cụ thể. Giọng văn vì thế mà lắng xuống, câu chữ như gãy vụn, vỡ oà trước sự thúc ép của rất nhiều xót xa, thương cảm. Dù có nhiều mất mát, xót đau nhưng phần lớn không có sự sám hối, phủ định; bao trùm lên nhiều sáng tác vẫn là sự nhân hậu, minh triết của người viết. Sự hi sinh của người lính không phải đã đặt dấu chấm hết cho những mất mát không gì bù đắp nổi của dân tộc, nỗi đau còn được kéo dài, được nhân lên ở thế giới bên kia. Nhưng một điều cũng hết sức cảm động là từ cõi âm, vẻ đẹp của nhân cách, tâm hồn các anh như được bọc trong ánh hào quang huyền thoại nên lại càng lung linh, bất tử. Cuộc tử sinh dẫu có nhiều nước mắt nhưng đó chỉ là sự chia tay tạm thời; còn nỗi đam mê, tình yêu cuộc sống, tất cả sự vĩ đại mà dung dị của người lính Việt Nam thì vẫn trường tồn và tiếp tục phát huy sức mạnh (Thần Đất – Vũ Bão, Cõi âm – Triệu Bôn, Tiếng rừng - Hiền Phương, Đợi bạn – Ngô Tự Lập, Xác phàm – Nguyễn Đình Tú, Bến trần gian – Lưu Sơn Minh, Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai, Cặp bồ với ma – Ngô Văn Phú, Tàn đen đốm đỏ - Phạm Ngọc Tiến, Khúc hát biển ban mai – Phạm Ngọc Chiểu,…). Giọng quan hoài da diết cũng gắn liền với mô tip con người cô đơn sau chiến tranh. Điều đó khiến cho nhiều truyện không tránh khỏi cảm giác mệt mỏi, day dứt trong giọng điệu trần thuật. Miền hoang, Mình và họ, Nỗi buồn chiến tranh, Rừng thiêng nước trong,… bám riết tâm trí người đọc bởi những cung bậc của kí ức chiến tranh với âm hưởng trầm buồn, da diết và sâu lắng.

Nỗ lực khu biệt, nâng tầm của văn xuôi chiến tranh đương đại còn hiện diện ở nhiều triết lí, đối thoại không khỏi gây hấn với lối tiếp nhận truyền thống. Đâu chỉ mắc nợ con người, những kẻ châm ngòi chiến tranh còn gây sự, làm tổn hại nghiêm trọng đến tự nhiên, môi trường sống. “Chiến tranh bẩn thỉu hơn tất cả những trò bẩn thỉu mà con người ta nghĩ ra!” (Ngược chiều cái chết – Trung Trung Đỉnh); “Chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới thảm sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người!” (Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh); “Người ta còn nhiều việc để làm hơn là báo thù. Chiến tranh là thảm họa cho cả dân tộc. Cần phải cứu lấy mọi người” (Mùa hè giá buốt – Văn Lê). Những tra vấn về được - mất, nhân bản – phi nhân, nhất thời – vĩnh cửu,… của cá nhân, dân tộc, nhân loại, của đời sống, của giá trị con người,… cũng thường xuyên xuất hiện: “Chiến cuộc, miếng cơm manh áo nó bắt người ta đi, chứ ngây ngô có hiểu gì về chính nghĩa quốc gia hay gì gì đó đâu” (Không biết gì về chiến tranh - Lê Minh Khôi); “Con người cậy có sự mạnh, hung hăng chinh phục và tàn phá mọi thứ (…) Cần phải đến với rừng để học hỏi, để nhận biết đâu là phía trước, đâu là phía sau, đâu là phải, đâu là trái” (Rừng thiêng nước trong – Trần Văn Tuấn); “Không có chiến thắng nào không có máu xương, vì vậy không cứ gì hát hò ngợi ca mãi thì người ta mới biết mình chiến thắng (…) Hãy để cho lòng từ bi lên tiếng, trong mười hai điều răn của Phật, điều đã từng làm nên bản sắc mạnh của người Việt là sự khoan hòa” (Nén nhang chung - Dạ Ngân)… Đây là những yếu tính tạo nên sự đa bội trong điểm nhìn, gọng điệu trần thuật, tính phức điệu, đa thanh (polyphony), tinh thần dân chủ của văn xuôi. Người viết không còn chiêm ngắm quá khứ bằng tâm trạng ngây ngất, tự hào đơn phiến, mà chiêm nghiệm thời bi tráng đã qua, thời loang lổ đương hiện, nhìn bản thân và những người bên kia chiến tuyến toàn diện, điềm tĩnh, bao dung hơn. Trong đoạn kết của tập bút kí Viết từ hành tinh kí ức, Võ Diệu Thanh đã để cho một cựu cán bộ Khmer Đỏ thời kháng chiến chống Mĩ, đầy từng trải, thấu hiểu lẽ đời đánh giá về những tốt xấu, đúng sai của Pol Pot, về nạn diệt chủng, về mục tiêu, mục đích của chế độ độc tài… khách quan, thấu đạt.

Chiến tranh trong tiểu thuyết, truyện ngắn hôm nay cũng nhắc nhớ người đọc qua các biểu tượng nhiều ám gợi như nước, lửa,... Màu sắc sử thi, vai trò đại diện cho lí tưởng, nhiệt huyết, sức mạnh của dân tộc không còn nữa; các biểu tượng này được sáng tạo chủ yếu từ cảm hứng bi kịch, gắn với bao kiếp phận bé mọn, vô danh trong mưa bom bão đạn. Nỗi buồn chiến tranh là sự rên xiết của con người trong “biển lửa”, “cái lò lửa tàn khốc”, “tuyến lửa”, “con lộ lửa”, “cột lửa”… Lửa ngùn ngụt cháy trong những trang nhật kí của Trần Củng: “Tiếng bom, tiếng súng hòa lẫn thành một thứ âm thanh hỗn độn. Mặt đất như bị vỡ ra từng mảng… Tiếng tre nứa cháy ngùn ngụt, lốp bốp… cả làng Chành giãy lên đành đạch…” (Cõi đời hư thực - Bùi Thanh Minh). Trong tâm thức văn hóa nhân loại, lửa có tính hai mặt: hủy diệt và tái sinh. Tuy nhiên, lửa trong văn xuôi viết về chiến tranh sau 1986 phần nhiều chỉ mang sức mạnh hủy diệt. Đi liền với biển lửa hung tàn là máu me, chết chóc, đổ nát. Cảnh binh lửa kinh hoàng khiến người lính hoang mang, thảng thốt, không biết mình chiến đấu vì lẽ gì. “Cuộc chiến tranh này là cuộc chiến tranh gì vậy?” (Ăn mày dĩ vãng - Chu Lai). Khói lửa chiến tranh không chỉ thiêu đốt vạn sinh linh nơi chiến địa mà còn lan ngún đến làng quê, phố thị cả thời chiến lẫn thời bình qua những biến thể: ngọn (bóng) đèn, khói hương,... Bóng điện tù mù, đơn độc bầu bạn cùng Kiên thâu đêm suốt sáng (Nỗi buồn chiến tranh), ngọn đèn dầu hắt sáng vàng vọt trong Bến không chồng, leo lét trong Người ở bến sông Châu hay đỏ quạch trong Người sót lại ở Rừng Cười… khắc họa những nỗi đau, bất hạnh khó nói hết bằng lời của con người, đặc biệt là phụ nữ. Nước và các biến thể của nó như dòng sông, bến nước, nước mắt,… cũng góp phần không nhỏ để phục dựng bi kịch nhân quần sau cuộc chiến: Bến trần gian (Lưu Sơn Minh), Bến đò Lăng (Phùng Văn Khai), Bến đàn bà (Nguyễn Mạnh Hùng), Mười ba bến nước, Người ở bến sông Châu (Sương Nguyệt Minh), Bến không chồng (Dương Hướng), Hai người đàn bà xóm Trại (Nguyễn Quang Thiều)… Bên cạnh những tính năng quen thuộc: xoa dịu, gột rửa, thanh tẩy, nước cùng với những sự vật gắn liền với nó như bến sông, con đò còn là tác nhân kéo dài, khơi sâu bất hạnh của không ít nhân vật: tuổi xuân mải miết xuôi dòng, còn niềm vui, hạnh phúc bình dị thì như con đò bỏ bến sang ngang.

Một điều đáng ghi nhận trong sự sáng tạo của văn xuôi chiến tranh từ đầu thế kỉ XXI là tính liên văn bản trên tinh thần đối thoại, giễu nhại những khung thước cũ. Miền hoangHoang tâm đều lấy chất liệu từ cuộc chiến biên giới Tây Nam như một “tiền văn bản” làm cảm hứng sáng tác. Từ những tư liệu, chứng nhân lịch sử và những kí ức về chiến tranh, nhà văn đã dựng lại không khí cam go, ác liệt về cuộc chiến chống lại tội ác phi nhân bản, phản nhân văn của chính quyền Khmer Đỏ. Sự dung hợp nhiều thể loại trong mỗi tiểu thuyết cũng dẫn đến tình trạng phì đại diễn ngôn, hiện thực – một yếu tính của văn chương hậu hiện đại [xem 1]. Trong Hoang tâm, Nguyễn Đình Tú đưa thơ, nhạc, truyền thuyết và cả bài văn của học sinh vào văn bản truyện. Ở Miền hoang, Sương Nguyệt Minh dụng công sưu tầm những bản tin trên báo, những bài thơ của đồng đội viết về chiến trường K. Mỗi chương của cuốn sách, nhà văn đều dẫn một mẩu tin đã được báo chí đăng tải, có trích nguồn cụ thể, như một cách làm sống lại lịch sử một thời, giúp người đọc nhập cuộc, sống cùng không khí chiến trận. Nếu như đoạn nhạc: “Ta là con của bố mẹ ta, nhớ nhà là ta tút ra về. Ta không cần ba lô không cần ô tô không cần chi mô, ta về thăm bố xong ta lại lên. Trên con đường ta đi có nhiều gian nguy làm ta khiếp vía, ta đi theo lối nhỏ là lối an toàn…” đã “tái chế” ca khúc Bước chân trên dãy Trường Sơn của nhạc sĩ Vũ Trọng Hối trong Hoang tâm mang tinh thần giễu nhại tâm thế của những người lính bị đẩy ra trận thì những bài hát trong Miền hoang lại là liều thuốc an thần để tên Lục Thum quên đi nỗi đau khi bị cưa chân. Các bài thơ của đồng đội Tùng không chỉ giúp những con người lạc rừng xích lại gần nhau hơn mà còn phản ánh hiện thực đói khát, gian khổ, khốc liệt nơi hoang địa khô cằn. Những thi phẩm ủy mị trong cuốn sổ nhật kí của tên lính ngụy cho thấy cách nhìn nhận, đánh giá của Nguyễn Đình Tú về vai trò của văn học nghệ thuật đối với kẻ tham chiến. Không ít lần nhân vật Anh nghĩ rằng những bài thơ mang tư tưởng mộng rớt là nguyên nhân dẫn đến thất bại của chính quyền Mĩ ngụy. Ngược lại, quân ta thắng trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại một phần là do sức mạnh được hun đúc từ những bài thơ, bài hát cổ vũ tinh thần chiến đấu.

Sự chuyển biến của văn xuôi chiến tranh cũng hiện diện rõ trong chất liệu – ngôn từ, nhất là dạng thức tục ngôn [xem 6]. Trong Sắc màu chiến trận, Thu Trân đưa ra những cách diễn đạt rất “lính”: nhớ nhà nhớ quê bỏ mẹ”, “Mẹ kiếp, bảy thằng ngồi đây, khi về biết có còn phân nửa”, “đàng nào cũng sắp về âm ti cả”,… Cách ăn nói có phần bổ bã, thậm chí tục tĩu chính là liệu pháp hữu hiệu để con người đối chọi với thực tế khắc nghiệt, vượt quá sức chịu đựng. Khẩu ngữ, trong trường hợp này, như sự giải tỏa, một lối thoát của thực tại – một thực tại được nhận thức bởi ngôn ngữ chính thống với tiếng đì đoàng của súng đạn, với những lời kêu gọi lí tưởng khuôn sáo khô khan, giúp người lính can đảm đối diện với cái chết nơi chiến trường. Trong kiệt tác Đường về, Remarque cũng để nhân vật của mình bày tỏ điều này: “Ở mặt trận, nếu chúng tôi bị rơi vào tình huống tồi tệ làm chúng tôi quên tất cả những thứ vô nghĩa các ông nhồi vào đầu chúng tôi, chúng tôi nghiến răng và nói “cứt”, rồi sau đó mọi việc tiếp diễn như thường. Ông dường như không hề biết điều gì đang xảy ra! Đến đây không phải là các cậu bé dũng cảm, không phải là các học sinh thân yêu, đến đây là những người lính!” [2, tr.128]. Tạm không bàn về vấn đề tư tưởng, cách xây dựng “sắc màu chiến trận” của Thu Trân trong phương diện ngôn ngữ, nếu đối sánh với truyện ngắn của các tác giả trước cùng viết về chiến tranh, rõ ràng đã có một bước tiến nhất định. Nó là đối cực với ngôn ngữ chính thống, hướng đến một chân dung người lính, một màu sắc rất khác của chiến tranh.

Còn rất nhiều biểu hiện về sự cách tân bút pháp của văn xuôi chiến tranh hôm nay không thể nói hết trong bài viết nhỏ này. Nhưng chừng đó cũng cho thấy, khi lựa chọn đề tài, ngay từ đầu, nhà văn không thể đặt mình xuôi theo quán tính cũ. Thường trực ở người viết là ý hướng, nỗ lực vượt thoát để tạo dấu ấn, để khẳng định phong cách. Bằng sự dụng công, độc sáng trong phương thức trần thuật, sáng tác của họ đã có những đóng góp đáng trân trọng cho văn học hiện đại dân tộc.

3. Và chân trời mời gọi những đường bay

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng nó vẫn là một “siêu đề tài” trong văn học hậu chiến. Viết về chiến tranh là một việc rất khó đối với các tác giả đương đại, bởi chỉ cần một chút vụng về, đứa con tinh thần của họ sẽ đi vào lối mòn của nhiều tác phẩm vang danh trước đó. Một sáng tác được xem là xuất sắc về chiến tranh trong thời đại này phải cho thấy, dù một khía cạnh rất nhỏ, sự viết lại lịch sử; ở đó có sự hòa kết đầy tính thẩm mĩ giữa diễn ngôn nghệ thuật với diễn ngôn lịch sử, diễn ngôn chiến tranh và diễn ngôn văn hóa. Bằng việc phục dựng chân thực chiến tranh-như-nó-vốn-là, văn xuôi hôm nay đã góp phần để cho độc giả, nhất là những người trẻ tuổi, có những kiến văn, xúc cảm đáng quý. Chuyện hôm qua đâu phải là một đi không trở lại; nó vẫn còn can dự trực tiếp, dài sâu vào hiện tại, và cả tương lai. Ngoại vi hóa ý đồ khơi lại, khoét sâu vết thương cũ, trong nỗ lực bạch hóa quá khứ, tác phẩm giúp bạn đọc nhận diện bản thân và đất nước mình, để có hạnh phúc của người sống trong tình yêu thương, sự tha thứ, bao dung. Những được mất của chiến tranh không ngừng được mổ xẻ, phân tích, tra vấn. Nhà văn tự đứng về phía nỗi đau, mất mát của cá nhân, dân tộc để có thêm nội lực khám phá chiến tranh ở mọi chiều kích mới mẻ của nó, góp phần “nối sự linh thiêng vào cuộc đời này” (Nối linh thiêng - Bích Ngân). Chính thái độ sòng phẳng mà đằm sâu nghĩa tình, trách nhiệm đó đã hợp sức khắc sửa nhiều di hại mà cuộc chiến gây ra. Nỗ lực trong cuộc chạy tiếp sức của nhiều thế hệ để mới hóa truyền thống, nâng tầm văn học, văn hóa, cùng với đó là vị thế dân tộc của văn học chiến tranh là điều đáng trân trọng. Phải làm sao viết về cuộc chiến, về quá khứ bi hùng mà câu chữ ngồn ngộn chất sống của hiện tại, có sức nặng dự báo tương lai, khiến cuộc sống đáng sống hơn, người gần người hơn, để tác phẩm ra đời trong sự chân thật, đầy xúc động… là những thách đố không hề nhỏ đối với người người cầm bút hôm nay.

Những gì đã trình bày cũng xác tín rằng chiến tranh vẫn là đề tài phong nhiêu, nhiều ám gợi đối với cả người sáng tác lẫn người thưởng thức văn chương Việt Nam trong hiện tại và tương lai. Đây là mảnh đất màu mỡ đang chờ đợi bàn tay cày xới, bón chăm của nhà văn để cho đời những vụ mùa viên mãn. Viết về cái đã qua để chữa lành nỗi đau quá khứ, để thấu cảm đất nước, dân tộc mình, để có tâm thế an yên, minh triết của người đi về phía trước… đó là kì vọng mới, tích cực và nhân bản của văn xuôi chiến tranh mà những kết quả đã có cũng chỉ là bề nổi của một hiện thực thẩm mĩ giàu hứa hẹn.

 

(*) PGS.TS – Khoa Ngữ văn, Trường ĐHSP Tp.Hồ Chí Minh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Lê Huy Bắc (2017), Văn học hậu hiện đại lí thuyết và tiếp nhận, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội.

[2] Erich Maria Remarque (2017), Đường về, NXB Văn học, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Hoàng Đăng Khoa (lược ghi) (2017), Viết, như là một can dự vào lịch sử, Văn nghệ Quân đội, Số cuối tháng 12.

[4] Bích Thu (1999), Văn xuôi năm 1998 – thực trạng và vấn đề, Tạp chí Văn học, Số 1.

[5] Bùi Thanh Truyền (2014), Yếu tố kì ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam, Nhà xuất bản Văn học – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội.

[6] Bùi Thanh Truyền – Lâm Hoàng Phúc (2018), Tục ngôn trong truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn kí hiệu học văn hóa, Kỉ yếu Hội thảo Quốc tế “Ngôn ngữ học Việt Nam – những chặng đường phát triển và hội nhập quốc tế”, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, Tháng 12.

 

Nguồn: Nghiên cứu Văn học, Số 1, 2020

Đọc thêm...
 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

Trang 4 trong tổng số 16

THÔNG TIN HOẠT ĐỘNG

THƯ MỜI DỰ LỄ TỐT NGHIỆP VÀ TRAO BẰNG TÂN CỬ NHÂN NĂM 2020

TRƯỜNG ĐHSP TP.HỒ CHÍ MINH KHOA NGỮ VĂN - * - CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tp.Hồ Chí Minh,...

VĨNH BIỆT PHÓ GIÁO SƯ, NHÀ GIÁO ƯU TÚ NGUYỄN NGUYÊN TRỨ

VĨNH BIỆT PHÓ GIÁO SƯ, NHÀ GIÁO ƯU TÚ NGUYỄN NGUYÊN TRỨ Bùi Mạnh Nhị Biết Phó Giáo sư, Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Nguyên Trứ bị bệnh đã lâu ngày nhưng tin...
 

Học vụ

TÌNH HÌNH BẢO VỆ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CỦA SINH VIÊN HỆ CHÍNH QUY NĂM 2009 (2)

Từ ngày 18/5 đến 26/5/2009, Khoa Ngữ văn đã tổ chức hội đồng bảo vệ luận văn cho 28 sinh viên năm thứ tư. Các luận văn đều được đánh giá tốt, trong...

TÌNH HÌNH BẢO VỆ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CỦA SINH VIÊN HỆ CHÍNH QUY NĂM 2009 (1)

Từ ngày 18/5 đến 26/5/2009, Khoa Ngữ văn đã tổ chức hội đồng bảo vệ luận văn cho 28 sinh viên năm thứ tư. Các luận văn đều được đánh giá tốt, trong...
 

Đoàn TN - Hội SV

THÔNG BÁO VỀ HỘI THI NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN KHOA NGỮ VĂN TRƯỜNG ĐHSP TP. HCM NĂM HỌC 2008 - 2009

1/ Mục đích ý nghĩa: Trường ĐHSP là trường có nhiệm vụ hướng nghiệp dạy nghề rất rõ ràng. Đồng thời với việc được trang bị kiến thức về khoa...

 BÀI MỚI NHẤT