Vietnamese-VNFrench (Fr)简体中文English (United Kingdom)

Khoa Ngữ Văn
  
Trang chủ Giới Thiệu Sách
SÁCH MỚI: Tiểu thuyết Việt Nam 1945 - 1975 PDF. In Email
Thứ tư, 12 Tháng 9 2012 17:59

 

Tiểu thuyết Việt Nam 1945 - 1975 của Phạm Ngọc Hiền là cuốn sách chuyên luận nghiên cứu về tiểu thuyết cách mạng xuất bản ở miền Bắc trong giai đoạn 1945 - 1975. Sách được in lần đầu năm 2010 và ba năm sau, 2012, sách được NXB Văn học cấp giấy phép tái bản.


Đọc thêm...
 
SÁCH MỚI: Lý luận văn học – những vấn đề hiện đại (Nxb. Đại học sư phạm, 2012) PDF. In Email
Thứ năm, 13 Tháng 9 2012 09:19

 

Lý luận văn học – những vấn đề hiện đại (Nxb. Đại học sư phạm, 2012) do Lã Nguyên tuyển dịch những công trình “có giá trị kinh điển của những học giả hàng đầu ở thế kỉ XX”.

Đọc thêm...
 
SÁCH MỚI: Luận bàn minh triết và minh triết Việt (Hoàng Ngọc Hiến) PDF. In Email
Thứ sáu, 21 Tháng 9 2012 09:45

Đọc sách của Hoàng Ngọc Hiến: Minh triết là thực hành cái thiện

 

(TT&VH) - Luận bàn minh triết và minh triết Việt (NXB Tri Thức 2012) là cuốn sách mang nguyên vẹn những giá trị tư tưởng, văn hóa từ khối óc và trái tim của nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến (1930-2011). Qua cảm nhận của nhà phê bình Văn Giá, chân dung Hoàng Ngọc Hiến một lần nữa được khắc họa từ phía sau những trang sách của ông. Một nén tâm hương của người học trò dâng lên kính Thầy trong ngày đầu Thu khai trường!

1. Tôi là người may mắn được đọc cuốn sách này khi dang còn ở dạng bản thảo. Đó là lần chúng tôi mời nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến giảng chuyên đề này cho sinh viên Viết văn. Ông bảo: “Các cậu đem photo cuốn này ra cho sinh viên đọc trước để tiện theo dõi”.


Ông lên lớp tổng cộng 3 buổi. Ai ngờ, đó là những giờ giảng cuối cùng trong đời nhà giáo của ông. Chỉ sau đó chưa đầy 2 tháng, ông đã đi về cõi vô cùng.

Tôi nhớ có lần trò chuyện với cánh nghiên cứu trẻ, trong đó có tôi, ông bảo: cách chiếm lĩnh một ngành khoa học nào đó là chỉ cần nắm vững một số khái niệm cốt yếu nhất của nó thôi là đủ; chẳng hạn, phân tâm học chỉ có vài khái niệm cốt yếu; đó là những code (mã), nắm được chúng tức là chiếm lĩnh được ngành khoa học đó.

Thật chí lý. Tôi đem tinh thần đó vào đọc các lý thuyết. Và cũng thế, đem đọc vào công trình này của nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến.


Đó là một loạt các khái niệm và những cách nói thuộc một kiểu diễn ngôn đặc trưng rất Hoàng Ngọc Hiến (trước công trình này, người ta vẫn hay nhắc đến ông với bảng từ vựng độc quyền của ông như: đích đáng, hiện thực phải đạo, trí thức bình dân, văn học âm/dương tính, kể nội dung/ viết nội dung, “có” và “là”, “cái nước mình nó thế”)...

 

Bìa cuốn sách Luận bàn minh triết và minh triết Việt.

2. Ông phân biệt giữa minh triết và triết học một cách nồng nhiệt. Hoàng Ngọc Hiến ở mọi nơi, mọi lúc, mọi công trình đều mang một tinh thần nồng nhiệt như thế. Ông cho rằng cốt lõi cơ bản nhất của minh triết là thực hành cái thiện, là lặng lẽ sống với cái thiện, là làm việc thiện, chứ không phải chỉ để biết, để nói suông.

Ông cho rằng minh triết thiên về sự cân bằng hài hòa, coi trọng lương tri, sự biết điều. Say sưa chính trị, say sưa lý thuyết mà không biết minh triết là một thảm họa, khi ấy sẽ trở nên “mê sảng lý thuyết”,  “Đem nhân dân tế cho lý thuyết đó là một sự khốn nạn”. Vẫn lời ông: Bản chất của con người là nhầm lẫn và điên rồ. Minh triết có khả năng ngăn ngừa sự nhầm lẫn và điên rồ đó.

Ông cũng lại cho rằng minh triết là nhằm hướng đến một “cuộc sống tốt” (chữ dùng của Aristote).

Ông bảo: “Trong tiếng Việt có một từ hết sức đích dáng để diễn đạt ý niệm “cuộc sống tốt” của Aristote, đó là từ “hẳn hoi” (…). “Hẳn hoi” không phải là một tiêu chuẩn quá cao: không phải thật giỏi mới hẳn hoi, không phải thật đàng hoàng, thật dũng cảm, thật “đạo cao đức trọng” mới hẳn hoi. Hẳn hoi là một phẩm chất có thể đặt ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi bình diện: ăn mặc hẳn hoi, nhà cửa hẳn hoi, lời lẽ hẳn hoi, một người thầy hẳn hoi, một người cha hẳn hoi, một người lãnh đạo hẳn hoi, học vấn hẳn hoi, làm ăn hẳn hoi…” (tr.34).


Thật thú vị. Đọc vào Hoàng Ngọc Hiến là đọc vào tư tưởng, và cùng với tư tưởng là chữ- những chữ “đích đáng” (vẫn là một chữ dùng quen thuộc của ông).

3. Tôi muốn nói thêm về khái niệm “cá nhân luận văn hóa”.  Ông cho rằng trong giai đoạn cách mạng trước đây, chúng ta chỉ chú ý đến chủ nghĩa cá nhân “đạo đức học” mà chưa kịp phân biệt và chú ý đến cá nhân luận văn hóa. Vế trước, có nghĩa là quyét sạch chủ nghĩa cá nhân: ích kỷ, vị lợi, vô trách nhiệm đối với người khác và cộng đồng. Vế sau có nghĩa là “ý thức của cá nhân về cá tính và bản lĩnh của riêng mình, đặc biệt nó thể hiện ở “lòng tin” của các nhân vào “giá trị của ý kiến riêng của mình” cũng như giá trị những hình thức diễn đạt nó lựa chọn và sáng tạo, tóm lại, đó là lòng tin của các nhân vào bảng giá trị của nó” (tr.125).


Như vậy, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến một lần nữa trở lại với luận điểm mà ông đã phát biểu nhiều lần ở đây đó trong các công trình của mình về mối quan hệ cốt yếu giữa nội dung và hình thức, giữa cái được biểu đạt và cái biểu đạt, giữa viết cái gì và viết thế nào, cả hai đều quan trọng ngang nhau và hòa huyết trong nhau.

Thời nào cũng có những sự nổi trội của cá nhân luận văn hóa vượt thoát khỏi cái khung hạn hẹp của thể chế. Nhưng phải chờ đến giai đoạn1930- 1945, cá nhân luận văn hóa mới được phát triển như một ý thức văn hóa. Nhờ vậy, nó đem lại những phong cách cá nhân vượt trội trong tất cả các lĩnh vực, nhất là văn chương, âm nhạc, hội họa… Làm thế nào để ý thức cá nhân luận văn hóa được phát triển mà vẫn không đoạn tuyệt với cá nhân đạo đức học là một bài toán đặt ra đối với việc xây dựng nền văn hóa hôm nay.

 

4. Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến viết nhiều, giảng dạy nhiều. Tuy thế, mỗi lần xuất hiện, là một dịp ông làm mới lại chính mình khiến người nghe/ đọc nhiều khi sửng sốt và thích thú. Ông là một nhà nghiên cứu thích và có khả năng gây ra những điều sửng sốt. Phẩm chất này không phải dễ mà có được.

Trong công trình này, tôi thấy ông thực hành quan niệm “đa nguồn minh triết” với những tham cứu sâu sắc từ các nguồn dân gian bản địa (gồm cả các dân tộc anh em), bác học, tam giáo, Trung Hoa, phương Tây, chủ nghĩa Mác, cụ Hồ và rất nhiều nguồn khác. Tuy nhiên, ông lại tự phản tỉnh, và khuyến cáo: việc “bảo vệ nguyên lý và truyền thống” phải gắn liền với việc “hiểu mới nguyên lý và truyền thống”. Tinh thần Phật giáo xưa nay đã vậy (phá chấp, tùy duyên). Con người hiện đại ngày hôm nay càng phải vậy. Đó là một tinh thần trẻ, năng động và hướng về sự tiến bộ.


Đọc công trình này, với ai không biết, với riêng tôi được khai sáng, và nhất là được an ủi rất nhiều.

Văn Giá

nguồn: phongdiep.net

 

 
GIỚI THIỆU SÁCH: Phân tích tác phẩm theo cấu trúc - loại hình (Đọc Loại hình tác phẩm “Thiền uyển tập anh” (*) (PGS.TS.Trịnh Bá Đĩnh) PDF. In Email
Thứ hai, 01 Tháng 10 2012 09:57

Phân tích tác phẩm theo cấu trúc - loại hình

(Đọc Loi hình tác phm “Thin uyn tp anh” (*)

(PGS.TS.Trịnh Bá Đĩnh)

Thiền uyển tập anh (Anh tú vườn thiền) là một tác phẩm thuộc “vùng sâu” và “vùng xa” của văn học dân tộc. Nó ra đời từ thế kỷ XIII-XIV, thêm nữa lại thuộc bộ phận “văn học nhà chùa” vốn trước hết dành cho cử toạ (độc giả - thính giả) là tăng ni Phật tử. Tập truyện văn xuôi được xem là cổ nhất này ghi lại 3 chi phái Thiền giáo và 68 vị cao tăng nhà Phật ở ta từ giữa thời Bắc thuộc (thế kỷ VI) cho đến đầu đời Trần (đầu thế kỷ XIII). Đây là “khu vườn” nhỏ nhưng trong đó trầm tích nhiều lớp tri thức văn hoá cổ mà không phải ai cũng có đủ vốn kiến văn để bước vào tìm hiểu. Trước hết phải có tư cách chuyên gia. Từ lâu nay, đã có một số chuyên gia nghiên cứu Thiền uyển tập anh trên các lĩnh vực văn bản học, tư tưởng sử, văn hoá học, và họ cũng đã đạt được khá nhiều kết quả với nhưng công trình uyên bác và sâu sắc. Chẳng hạn như các nghiên cứu của Trần Văn Giáp, Nguyễn Lang Lê Mạnh Thát, Hà Văn Tấn, Nguyễn Tự Cường… Còn từ góc độ văn học, theo như tôi biết thì cuốn sách này của Nguyễn Hữu Sơn là công trình quy mô đầu tiên bàn chuyên về Thiền uyển tập anh, gồm 372 trang in, với những chỉ dẫn tên riêng và khái niệm, với lịch sử vấn đề, hình thức lớp lang đúng theo tiêu chuẩn của một tác phẩm khoa học thứ thiệt. Các nhà nghiên cứu văn học đi trước phần lớn chỉ tạt ngang qua Thiền uyển tập anh, khi bàn về lịch sử văn học, về tiến trình văn học dân gian hoặc các quan hệ giao lưu văn hoá, văn học giữa ta với Trung Quốc và Ấn Độ. Dẫu sao thì cũng đã có một số nhận xét sâu sắc và đúng đắn được nêu lên và Nguyễn Hữu Sơn đã trân trọng, kế thừa, đồng thời cũng biết đánh giá chúng nhằm tìm ra con đường riêng để mình có thể có đóng góp khoa học. Theo tôi, Nguyễn Hữu Sơn đã đưa ra một cách phân tích văn học mới đối với tác phẩm văn xuôi này và cơ bản đó là cách phân tích cấu trúc loại hình.

Trước tiên, nhà nghiên cứu xác định kiểu loại (type) của tác phẩm. Cách làm này là đúng bởi vì mỗi kiểu loại sẽ có một cấu trúc riêng và có chức năng riêng trong hệ thống văn học trung đại. Theo ông thì Thiền uyển tập anh thuộc loại truyện tiểu sử, kể về các “cao tăng thạc đức”. Tác giả gọi ngắn gọn là “tiểu truyện” một danh xưng, theo tôi, chưa đắc địa lắm vì chữ “tiểu” trong hệ thống tên gọi thể loại ở ta thường có nét nghĩa định lượng (tiểu thuyết, trường ca, thể ngũ ngôn…). Tuy nhiên đó chỉ là tiểu tiết, ở đây tôi muốn nói đến một bước tiến của tác giả so với những người đi trước. Trong những công trình nghiên cứu văn học trước đây, các nhà nghiên cứu thường gọi những ghi chép về thiền sư trong Thiền uyển tập anh bằng các từ ngữ ít xác định về nội dung khoa học như “truyện các nhà sư”, “hành trạng thiền sư”, “cuộc đời thiền sư”,… Gọi là “tiểu truyện” (truyện tiểu sử), Nguyễn Hữu Sơn đã đặt tác phẩm vào cùng một ngăn với những loại như cao tăng truyện ở Trung Quốc, truyện các vị thánh ở văn học trung đại phương Tây. Nhìn bề ngoài và nguồn gốc phát sinh, chúng có thể rất khác nhau song lại đều xuất phát từ một điểm nhìn về con người (con người “anh tú”) và có cùng thi pháp mô tả, kể chuyện (kể về các giai đoạn quan trọng nhất: sinh ra – hoạt động tôn giáo – tịch diệt). Nguyễn Hữu Sơn còn truy tìm những tác phẩm thuộc loại này ở nhiều nền văn học khác nữa như Ấn Độ, Triều Tiên… để củng cố quan niệm của mình về kiểu loại văn học. Nói chung, tác giả đã xem Thiền uyển tập anh không phải như một hiện tượng đơn lẻ, ngẫu nhiên mà như một hiện tượng có tính phổ biến, có tính quy luật. Đó chính là cách xem xét theo loại hình học (typologie).

Nguyễn Hữu Sơn không nhìn đối tượng nghiên cứu của mình bằng con mắt lịch sử, nghĩa là xem tác phẩm từ đâu đến và còn đi về đâu, mà nhìn nó bằng cái nhìn đồng đại, tại một “sát na” của chuỗi thời gian. Tác phẩm vì thế được phân tích về phương diện quảng tính: cấu trúc toàn thể và các bộ phận, quan hệ của tác phẩm với các hiện tượng khác của văn học và văn hoá thời đại, với văn học dân gian, huyền tích, sử tích… Kết cấu của một truyện tiểu sử tất nhiên phải khép kín, có mở và đóng, không như một tác phẩm sử biên niên có mở đầu mà có thể không có kết thúc, tuỳ lúc, tuỳ người mà có thể viết nối thêm vào sau. Mở đầu là nói về sự sinh ra của nhân vật. Con người “anh tú” sinh ra tất không giống sự thường mà phải là một sự lạ đúng như Nguyễn Hữu Sơn quan sát thấy trong Thiền uyển tập anh. Những hiện tượng như hào quang toả sáng, hay những dung mạo, vẻ dáng khác thường, trí tuệ đặc biệt… là sự “báo trước” phẩm hạnh của người được nói tới, quyết định việc mô tả chân dung nhân vật này sẽ phải được thực hiện theo bút pháp như thế nào. Mở đầu như vậy là sự mã hoá đối tượng. Nó rất quan trọng nên đã được Nguyễn Hữu Sơn phân tích khá kỹ trong chương Cấu trúc các tiểu truyện thiền sư trong Thiền uyển tập anh. Môtip “quy tịch” kết thúc các “tiểu truyện” cũng được dành cho sự phân tích và suy ngẫm không kém nghiêm túc. Tác giả đã thấy hết tầm quan trọng của yếu tố kết thúc khi viết rằng: “Môtip quy tịch vừa là một kiểu quan niệm tư duy, vừa là một hình thức nghệ thuật nằm trong quy trình không thể thiếu được của việc xây dựng các tiểu truyện thiền sư” (tr.89). Hầu hết những cái chết đều được chuẩn bị trước (chiếm 61/68 truyện), các kết thúc được lập trình sẵn, không có điều gì bất ngờ xảy ra. Quan niệm về sự “quy hoá thuận lẽ tự nhiên” của Phật giáo đòi hỏi phải thế, kết thúc của loại truyện tiểu sử yêu cầu phải như vậy. Nội dung và cách thức trình bày nội dung tương hợp hoàn toàn. Các thiền sư “im lặng mà quy hoá”, “an nhiên mà viên tịch”, “lặng lẽ mà qua đời”… Bình thản và yên lặng là trạng thái của kết thúc. Đôi khi trước khi viên tịch, nhân vật “cười lớn một tiếng” nhưng tiếng cười đơn độc không có âm vang, cộng ứng thì cũng là sự yên lặng, còn hơn cả sự yên lặng. Về bút pháp, các kết thúc được mô tả ngắn gọn, dứt khoát như Nguyễn Hữu Sơn đã tinh tế nhận thấy. Sau cái chết của nhân vật, truyện chấm hết, không có biến cố nào diễn ra nữa, nếu có chỉ là đôi sự kiện bên ngoài, không quan hệ lôgich với hành trạng của nhân vật. Chẳng hạn như đoạn kết của “tiểu truyện” sư Hiện Quang (?-1221): “Mùa xuân năm Tân Tỵ Kiến Gia thứ 11 (1221) khi sắp tịch, sư ngồi trên tảng đá nói kệ: Pháp huyễn đều là huyễn / Tu huyễn cũng là huyễn / Chẳng là hai huyễn ấy / Tức trừ được mọi huyễn. Nói xong, sư an nhiên mà tịch. Môn đồ Đại Viên sắm đủ lễ táng sư trong hang núi”. Nhân vật chết là hết…, truyện kết thúc đóng hoàn toàn, không thể thêm được gì nữa. Tuy nhiên ở phần đầu truyện nói về sự sinh của nhân vật thiền sư thì có thể thêm vào bao nhiêu sự kiện tuỳ ý. Bởi vì như Nguyễn Hữu Sơn cắt nghĩa: việc trình bày sự sinh thành của nhân vật bị chi phối bởi quan niệm tư duy “duyên khởi” của Phật giáo (tr.45). Nhân vật được xem như “hậu thân” của những kiếp trước, là kết quả truyền thừa công đức do nhiều đời cha mẹ tu tập (tr.51). Các sự kiện biến cố tiền “duyên” này (ông bà, cha mẹ, làm điều thiện, các điềm báo lạ…) có thể kê ra bao nhiêu tuỳ thích. Tác phẩm như vậy là mở về hướng khởi đầu vì thế có những quãng thời gian kể chuyện và thời gian của truyện kể đi ngược chiều nhau. Và đây là đặc thù của truyện tiểu sử Phật giáo. Một phương diện nữa của cấu trúc “tiểu truyện thiền sư” mà cuốn sách đề cập đến là cơ chế phối hợp của các loại văn bản khác nhau trong tác phẩm, truyện kể nghệ thuật, những bài giáo lý, thơ trữ tình, văn xuôi tự sự, đối thoại… Đây là vấn đề thú vị và rất khó. Có vẻ như Nguyễn Hữu Sơn đã dày công tìm hiểu và suy nghĩ về vấn đề này nên đã mạnh dạn, tự tin đưa ra những nhận xét của riêng mình. Trước hết, ông không đồng tình với việc “bứng” một loại văn bản nào đấy, như thơ trữ tình chẳng hạn, ra khỏi “mảnh vườn” của nó là truyện thiền sư rồi xếp vào thi tuyển này thi tuyển nọ để bình giải một cách cô lập. Theo Nguyễn Hữu Sơn, mỗi loại văn bản trong “tiểu truyện” có chức năng riêng của nó, truyện kể gây sự hấp dẫn đối với cử toạ, các bài giáo lý là những bài học cần có sự chính xác nhất định, còn thơ (kệ) nhằm “chưng cất’ những bài giáo lý khô khan để dễ nhớ, dễ thuộc; “giữa đoạn văn xuôi (giáo lý) với lời bài kệ bằng thơ có sự ứng hợp gần như tuyệt đối với nhau, cả về chủ đề, nội dung, lẫn từng hình ảnh, chi tiết…” (tr.141). Nguyễn Hữu Sơn còn cho rằng kiểu cấu trúc này cũng thấy ở loại “biến văn” – một thể loại văn học nếu không phải của riêng Phật giáo thì cũng là “quy y” theo nhà Phật, được tìm thấy ở Trung Quốc, trong động Đôn Hoàng. Những tra tầm và nhận xét của tác giả về quan hệ giữa “tiểu truyện thiền sư” và loại biến văn cho thấy rõ rằng muốn đi sâu vào cấu trúc tác phẩm rất cần phải hiểu rõ lịch sử ngoài tác phẩm.

Cũng cần phải nói rằng việc phân tích cấu trúc – loại hình của Nguyễn Hữu Sơn có đôi khi chưa nhất quán, vẫn còn chiểu theo lối mô tả lịch sử và trình bày các sự kiện trực cảm. Một phần do cách nhìn, phần khác do cuốn sách này có cơ sở là một luận án tiến sĩ của tác giả, dấu vết của lối trình bày trường quy còn khá rõ. Ngoài ra việc định danh khái niệm cũng có chỗ phải bàn. Chẳng hạn với thuật ngữ “lạ hoá”. Như ta biết nghĩa của một từ không phải là cái có sẵn trong từ đó, mà là do ta cấp cho nó. Mỗi từ chỉ được hiểu trong môi trường văn hoá nhất định. Từ “lạ hoá” với tư cách một biện pháp nghệ thuật lâu nay vẫn được hiểu trong giới phê bình nghiên cứu như một thủ pháp kịch. Dùng nó ở đây, tác giả phải giải thích dài dòng mà có vẻ vẫn chưa thoả đáng lại phải đưa vào ngoặc kép (“…”). Tại sao không chế tác ra thuật ngữ mới? Theo tôi, nếu có thể thì dùng từ kì lạ hoá ở đây cũng được, thêm vào một âm tiết, bỏ đi hai kí hiệu, nội dung lại rõ ràng, ngay ngắn hơn. Chẳng rõ tác giả có đồng ý như vậy không?...

Theo Tạp chí Văn học,

Hà Nội, số 2-2003

(*): Chuyên lun ca Nguyn Hu Sơn. NXB KHXH, H., 2002; Tái bản, 2003; 372 trang

nguồn: vanhoanghean.com.vn

 
GIỚI THIỆU SÁCH: Trọn đời một cõi “Xem đêm” PDF. In Email
Thứ hai, 15 Tháng 10 2012 07:43

Trọn đời một cõi “Xem đêm”

 

Đọc thơ Phùng Cung, tôi thêm phần kính yêu Tiếng Việt, bởi “phúc đức tại mẫu”, bởi Tiếng Việt phải là một người mẹ tảo tần thơm thảo thế nào mới sinh được trong lòng mình những thi sĩ như thế.

 

Phùng Cung
Tập “Xem đêm” của Phùng Cung

Giải Thành tựu trọn đời của Hội Nhà văn Hà Nội năm nay đã tìm được một chủ nhân vô cùng xứng đáng: tập “Xem đêm” của thi sĩ Phùng Cung.

“Cùng một lứa bên trời lận đận” với các tên tuổi của nhóm Nhân văn giai phẩm như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán... nhưng về sự nghiệp, từ trước tới nay chưa có một sự tôn vinh công bằng nào dành cho Phùng Cung.

Có đọc tập “Xem đêm”, người ta mới hiểu vì sao nhà văn Phùng Quán tình nguyện trở thành một kẻ đi đọc thơ rong và quyên tiền để giúp Phùng Cung và nhân sĩ Nguyễn Hữu Đang, người sống một đời trong nghèo khổ, chắt chiu lại xuất toàn bộ tiền dành dụm cho việc in và xuất bản tập thơ này.

 

“Xem đêm” là một tập thơ mang tầm thế kỷ, mỗi bài thơ là một bức họa tuyệt phẩm mà tác giả đã dùng ngôn từ để vẽ lên nó bằng tất cả tấm lòng yêu thương trân trọng dành cho nông thôn đồng bằng Bắc bộ.

Nhà thơ Hoàng Cầm nhận xét: “Mỗi bài thơ, có khi chỉ một câu đều như những luồng điện không giật chết người nhưng cứ thắt vào tim những luồng rung động thấm rất sâu”.

 

Còn nhà văn Phùng Quán thừa nhận: “Đọc thơ anh, tôi bỗng thấy thiên nhiên quanh tôi vụt giàu có lên bất ngờ và trở nên đẹp đẽ đến xao xuyến tận đáy lòng- những vẻ đẹp từ trước đến nay tôi vẫn nhìn mà không thấy”.

Cái vẻ đẹp của nông thôn Việt Nam mà nhiều người “đã nhìn mà không thấy” ấy hiển hiện trong thơ Phùng Cung nhỏ xinh như một món đồ ngoạn hảo mà người yêu đồ cổ ưa cầm để ngắm trong tay.

 

Mỗi bài thơ đầy chất thơ, chất họa và giục giã sự “cùng gợi mở” của người đọc như một công án thiền, nhưng nó không lánh đời, không kiêu kỳ mà ấm áp vô cùng bởi tình yêu thương cuộc sống, con người, cảnh vật: “Đầu mùa nắng- dứ/Hạt mồng tơi kênh đất nghé trời/Chuối con gái vội hong búp lụa/Cánh chuồn chuồn lia từng bóng râm con”(Nắng dứ) hay “Đê tiền triều gãy khúc/Đồng ngập trắng/Con lềnh đềnh cõng-vắng bơi suông/Thương em đứng giữa mùa-nước mắt” (Mùa nước mắt)...  Những câu thơ của Phùng Cung khiến người đọc cảm nhận nỗi gai người và đau thắt ở trong tim.

 

Phùng Cung từng bị tù đày, sống một đời cơ hàn trong trầm luân khổ ải, vắt kiệt sức mình vì nỗi sinh nhai nên ông chỉ có một “Xem đêm”, nhưng có hề gì, chỉ cần một tập thơ đó, tên tuổi của ông đã có vị trí ở thi đàn Việt Nam, không phải một góc nhạt nhòa nào đó mà phải ở chỗ sáng rõ “mặt tiền”.

 

Cái nỗi nghèo đói trong thơ Phùng Cung khiến người ta đau đến quặn thắt nhưng không hề bi thương mà vẫn thấy cháy lên một tình yêu cuộc sống: “Rổ không hờ hững quang treo/Nắng thả chào mào- nghiêng nghé/ Chó vẽ bóng gầy sân bếp/Gió-khều tã vá múa may” (Gia cảnh).

 

Phùng Cung thương những người phụ nữ quanh ông, có thể là mẹ, là chị, là vợ, hay là một người tình lỡ. Nỗi thương ấy xoáy vào lòng người đọc như những vết đinh: “Em vất vả/Tối ngày tất tả/Lưng áo em/Ngoang vôi trắng xóa/Cái trắng này/Vắt tận trong xương” (Mồ hôi xương) hay “Giọt nhớ ướt đằm nỗi nhớ/Luống cải vườn xưa/Đã lỡ xanh...Tay vịn đêm/Đầy mùi xa vắng/Nghe xóm nói/Em đi lấy chồng xa nghèo lắm/Có một lần về/Nhắn hỏi thăm anh” (Lỡ xanh).

 

Thương chị, ông viết: “Chị đi lấy chồng/Cuối hè năm đói/Phù sa lặn lội/Má phấn úa dần/Nón vá mo cau/Dấu chân chim đầy mặt/Thời gian trộm cắp hết ngày xưa” (Nuối tiếc), mỗi dòng chữ đọc lên nghe như một tiếng thở dài.

Phùng Cung trải mười mấy năm tù đày vì án văn chương, Phùng Quán kể ra tù ông tránh xa “mùi bút mực”, phụ vợ đập đinh, bán bánh rán, những lúc rảnh tay ông ngồi buồn thiu, chấm ngón tay vào đáy chén trà cặn, viết một từ gì đó lên mặt bàn. Liệu có phải là “Quất mãi nước sôi /Trà đau nát bã/ Không đổi giọng Tân- Cương”?

 

Trầm luân khổ ải cùng bao nỗi đọa đày trần thế, nên Phùng Cung thương quá đất nước mình: “Đất nước ơi/Tôi mến người/Như khi nhìn em bé ngủ/Tôi thương người/Như thương mẹ ốm/Vì đâu/Người khoác manh áo đỏ/Thừa sai- cũn cỡn/Tủi nhục tháng ngày/Long đong chiều sớm/Ôi! Có bao giờ/Người đau đớn như thế này không” (Đất nước).

 

Đọc thơ Phùng Cung, tôi thêm phần kính yêu Tiếng Việt, bởi “phúc đức tại mẫu”, bởi Tiếng Việt phải là một người mẹ tảo tần thơm thảo thế nào mới sinh được trong lòng mình những thi sĩ như thế. Tiếng Việt sinh ra Phùng Cung, rồi Phùng Cung lại hiến đời mình cho Tiếng Việt bằng một tấc lòng lúc nào cũng mang nặng ơn nghĩa sinh thành.

 

Phải là người thế nào thì Phùng Cung mới viết được bài thơ mà lòng yêu kính cái Đẹp trải rộng như biển cả thế này chứ: “Sáng nay may mắn ra đường/Đi một quãng/Gặp toàn người Đẹp/Tôi sung sướng/Trào nước mắt/Muốn đưa lưng/Làm thảm trải lối đi” (May mắn). Một cõi lòng thiêng  làm người đọc phải trào nước mắt theo ông.

 

Giải thưởng Thành tựu trọn đời của Hội Nhà văn Hà Nội 2012 trao vào sáng 10/10 vừa qua là giải thưởng đầu tiên Phùng Cung nhận được trong đời, nhưng với lòng yêu kính một tài thơ đã “tìm đất sạch dọn mình vào vĩnh viễn”, tôi ước ao đây sẽ không phải là giải thưởng duy nhất dành cho tập “Xem đêm”.

Yêu kính Phùng Cung vô cùng qua thơ ông, qua đời lận đận của ông, trong tôi vẫn hình dung ở một cõi xa xăm nào, ông dáng gầy vẫn còn nguyên đó. Vẫn còn: “Tôi đứng trong đêm/Ngửng đầu nhìn cao xa/Vọng hỏi/Có phải nước mắt con người/Đằm đằm giội xuống/Mà trên thiên cầu/Bao vì sao xao xuyến đổi ngôi”.

  • Mi An

Nguồn: Phunutoday

 

 
«Bắt đầuLùi123Tiếp theoCuối»

Trang 1 trong tổng số 3

THÔNG TIN HOẠT ĐỘNG

TỌA ĐÀM "SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC"

14 giờ chiều ngày 22/04/2015, tại văn phòng khoa Ngữ văn đã diễn ra buổi tọa đàm "Sinh viên nghiên cứu khoa học". Tại buổi tọa đàm, các sinh viên tham gia đề...

GIAO LƯU-TỌA ĐÀM: MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH

Ngày 04/12/2014, Tổ Lý luận văn học Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM đã tổ chức buổi giao lưu cùng NSND, đạo diễn Đào Bá Sơn với chủ đề...
 

VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT

VĂN HÓA NGHỆ THUẬT: Nhà văn người Canada,82 tuổi: Alice Munro đạt giải Nobel Văn học 2013

  Alice Ann Munro (1931-)   Chia sẻ trên Tập đoàn Truyền thông Canada: “Tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ đoạt giải. Tôi thực sự ngạc nhiên và không thể...

VĂN HÓA NGHỆ THUẬT: Hội Nhà văn Hà Nội vinh danh thể loại phi hư cấu (My Ly)

Ngày 3/10, Hội Nhà văn Hà Nội họp và công bố các giải thưởng năm 2013 của hội. Giải sẽ được trao vào ngày 10/10. Năm nay, giải thưởng trao cho những...
 

 BÀI MỚI NHẤT 

 TIN KHOA HỌC  

  • Giáo sư Trần Đình Sử     Chiều 23.10.2012, lúc 14.30, tại phòng họp C,...

    Đọc thêm...

  • VIỆN VĂN HỌC THƯ MỜI Tham dự buổi nói chuyện chuyên đề “Mấy vấn đề...

    Đọc thêm...

 ĐIỂM BÁO - TẠP CHÍ  

  • NHỮNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ HỌC TRÊN TẠP CHÍ NGÔN NGỮ NĂM 2011   Với 103...

    Đọc thêm...

 SÁNG TÁC 

Trên đường Nguyễn Du

duongnd Đi trên đường Nguyễn Du Tháng giao mùa lá me xanh màu ngọc Ta nhớ nàng Kiều chải tóc đếm thời gian Ta nhớ tình Kiều bỗng chốc dở dang Con tim tan vỡ… Phím đàn xưa réo rắt Và ta nhớ nàng Kiều: đôi mắt Xanh nước hồ thu Xanh màu lá Nguyễn Du Nguyễn Thị Anh...