Vietnamese-VNFrench (Fr)简体中文English (United Kingdom)

Khoa Ngữ Văn
  
Trang chủ VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
Văn học nước ngoài
VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI: QUAN NIỆM NHÂN SINH TRONG HỒNG LÂU MỘNG (TS. Đinh Phan Cẩm Vân) PDF. In Email
Thứ hai, 20 Tháng 10 2014 09:46


Tào Tuyết Cần, (1715?-1763?)

 

Hồng lâu mộng là tiểu thuyết cổ điển vĩ đại nhất của Trung Hoa. Nó đã được học giả cả ở Trung Quốc lẫn nước ngòai nghiên cứu và tái nghiên cứu suốt hai thế kỷ”(2, tr84). Tiếp cận từ phương diện nào, tác phẩm cũng mở ra những chân trời ý nghĩa mới lạ. Nếu như quan niệm nhân sinh của nhà triết học thường được phát biểu dưới hình thức luận đề thì ở các nhà văn lại được biểu hiện thông qua thế giới nghệ thuật vô cùng phong phú. Tiếng nói chung, riêng; cá nhân, cộng đồng; một thời hay muôn đời đều ít nhiều gặp gỡ trên những trang viết của Tào Tuyết Cần. Có được điều đó phần nhiều nhờ vào những khái quát, chiêm nghiệm cuộc sống mang tầm triết học của tác giả.

Hệ tư tưởng Trung Hoa rất đa dạng, giàu bản sắc. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới hai phương diện khá phổ biến trong quan niệm nhân sinh xuất phát từ hai truyền thống tư tưởng  bản địa của Trung Quốc: Đạo giáo  và Nho giáo, bao gồm quan niệm Nhân sinh như mộng và Thiên mệnh.

Đọc thêm...
 
HỌC LIỆU: Truyền thống "hiếu kỳ" trong văn học Trung Quốc (Nguyễn Thị Bích Hải) PDF. In Email
Thứ sáu, 02 Tháng 11 2012 10:22

 

Tiểu thuyết Trung Quốc từ truyền thống đến đương đại vô cùng phong phú, thật khó có thể khái quát được đầy đủ ở một số điểm nào đó. Tuy nhiên ở đây chúng tôi thử đề xuất một cảm nhận của mình: thị hiếu thẩm mỹ của tiểu thuyết Trung Quốc nổi bật lên ba chữ “hiếu” (thích, chuộng) (tam hiếu, hay có thể gọi là “thị hiếu bộ ba”), đó là: hiếu sự, hiếu sử và hiếu kỳ.

Trong “thị hiếu bộ ba” này, “hiếu sự” gần như là đương nhiên. Tiểu thuyết thuộc loại hình tự sự; phải có “sự” mới có thể “tự sự”, phải có “chuyện”, có việc mới “kể chuyện”, “kể việc” được. Như vậy gắn với “sự” là đặc điểm chung của tiểu thuyết chứ không riêng của tiểu thuyết Trung Quốc. Điểm đặc thù của tính “hiếu sự” trong tiểu thuyết Trung Quốc thể hiện ở việc nó rất coi trọng cốt truyện, đến mức trong một thời gian dài người ta mặc nhiên coi cốt truyện như là nội dung - nói “tóm tắt nội dung” thực tế lại là “tóm tắt cốt truyện”. Đặc điểm này đã có từ xưa nhưng càng được tô đậm thêm từ tiểu thuyết thoại bản thời Tống (960-1279).

Trọng sử là một đặc điểm của người Trung Quốc. Có thể nói người Trung Hoa là một trong những dân tộc trọng sử nhất trên thế giới này. Từ thuở xa xưa, khi mới có chữ viết là họ đã viết sử. Đến thời Xuân Thu (770 - 446 TCN), Khổng Tử (551 - 479 TCN), nhân vật đại biểu của văn hóa Trung Quốc cổ đại, đã nói rõ mình “tín nhi hiếu cổ”. Thị hiếu ấy của Khổng Tử cùng với chủ trương “pháp tiên vương” (theo phép tắc của các vua đời trước) của Nho gia Tiên Tần góp phần khẳng định tính chất “hiếu sử” của người Trung Quốc suốt mấy ngàn năm qua. Đặc điểm này thể hiện ra ở tâm trạng “hoài cổ” trong thơ, ở tỉ lệ rất cao tác phẩm viết về lịch sử hoặc lấy đề tài lịch sử trong tiểu thuyết và kịch (kể cả tiểu thuyết và kịch bản phim truyền hình hiện đại). Người ta viết tiểu thuyết mà vẫn đặt cho tác phẩm của mình những cái tên của những thể tài lịch sử: truyện, ký, chí, lục (chẳng hạn như: Huyền quái lục, U minh lục, Hội Chân ký, Chẩm trung ký, Tam Quốc chí diễn nghĩa, Thủy hử truyện, Tây du ký, Tình tăng lục, Thạch đầu ký (hai cái tên khác của Hồng lâu mộng), Liêu trai chí dị, Quan trường hiện hình ...; thậm chí đến thế kỷ XX mà con dấu của các thể tài lịch sử vẫn còn đóng lên nhan đề tác phẩm: Bình tung hiệp ảnh lục, Xạ điêu anh hùng truyện, Kiều xưởng trưởng thượng nhiệm ký...

Về truyền thống “hiếu sự” và “hiếu sử” còn có nhiều điều phải nói nhưng ở đây xin tập trung khảo sát truyền thống “hiếu kỳ”.

Đọc thêm...
 
TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU: Con gấu già bất hạnh - Romain Rolland (Ngân Xuyên dịch) PDF. In Email
Thứ sáu, 26 Tháng 10 2012 22:25

 

Maxim Gorky

 

Lời người dịch - Đây là đoạn trích từ cuốn nhật ký của văn hào Pháp Romain Rolland viết trong chuyến thăm Liên Xô, tháng 6-7/1935. Toàn bộ nhật ký về chuyến đi này đã được dịch từ tiếng Pháp sáng tiếng Nga và đăng trên tạp chí Nga Voprosy Literatury (Những vấn đề văn học), các số 3, 4 và 5 năm 1989. Đầu đề là của người dịch.



Hình ảnh Gorky so với Stalin thật hết sức tương phản. Sự gắn bó gần gũi của họ trong đời sống xã hội và trong hoạt động lại là một câu đố mà tôi đang cố tìm lời giải đáp. Gorky đã quên hết tất cả, lao vào cuộc cách mạng Nga, và sau nhiều cú chao đảo, thất vọng và nổi loạn mà những mảnh vỡ của chúng tận mười hai năm sau còn vọng đến tôi qua những bức thư ông gửi, ông đã hoàn toàn hiến thân mình cho tư tưởng và sự nghiệp của chủ nghĩa Lenin-Stalin; ông đã mang vào đó tất cả niềm say mê của lòng nhiệt tình và tinh thần lạc quan hòa chung với lòng nhiệt tình của công nhân và của những người xây dựng các kế hoạch năm năm to lớn. Nhưng tôi cảm thấy rằng khúc thánh ca này là để cố át đi lamento (tiếng rên rỉ) phát ra từ sâu thẳm con người ông. Tôi thấy ở ông có một nỗi đau buồn giấu kín. Và nguyên nhân không chỉ là cái chết mới rồi của đứa con trai. Nỗi đau buồn đó là khung cảnh của gần như tất cả các tác phẩm của ông. Xét về bản tính ông là một người bi quan, hồi nhỏ ngay từ rất sớm ông đã thu nạp vào mình sự bần cùng và thất học của nhân loại. Là người có một thể chất cường tráng, dẻo dai đến kỳ lạ, ông đã chọn con đường của kẻ du thủ du thực - suốt đời hoài công chạy trốn thế giới và chạy trốn chính bản thân mình. Hiển nhiên việc đó chỉ càng mài sắc thêm tính nhạy cảm thần kinh của ông, nhạy cảm đến mức chỉ một chấn động nhỏ cũng đủ làm ông rơi nước mắt. Cuộc cách mạng đã đẩy ông vào cơn hoảng loạn đạo đức hoàn toàn. Thời gian đầu ông không chấp nhận nó. Tính chất tàn bạo tất yếu của cách mạng khiến ông bị choáng váng. Những ai gặp ông vào những năm đó (như Nalsen và một số người khác) đều có ấn tượng là cuộc sống của ông đã bị hủy hoại và ông đang nức nở trong cơn hấp hối. Lenin, người yêu mến ông, đã đích thân đưa ông xa lánh bãi chiến trường và cảnh đổ nát hoang tàn. Hồi đó ông đã tạm lánh đến Neapole (Italia), cái xứ sở tuyệt đẹp và thanh bình này đã trở nên như ma túy, thuốc phiện đối với ông. Có biết bao người đã cố công để dần dần (không phải ngay lập tức, mà phải qua một số bước) đưa Gorky trở lại Liên Xô? Vai trò “viên thư ký” Kriusov của ông ở đây là thế nào? Và thực ra anh ta – cái con người thầm lặng ấy, là ai? Anh ta đại diện cho cái gì? Anh ta có ảnh hưởng quá lớn đến mức khó thể nghĩ rằng ông chỉ phải chịu ơn một mình anh ta. Nhưng dù vai trò của anh ta có thế nào chăng nữa, sau cái chết của Lenin thì Gorky (cũng phải vài năm sau đó) cuối cùng đã nghe theo những lời khuyên nhủ, thuyết phục, ông đã bị mê hoặc bởi hình ảnh nước Nga mới mà từ bên kia Địa Trung Hải trên đất nước của Mussolini nhìn về thấy càng rực sáng hơn. Trở về lại nước Nga ông thấy nó đã có nhiều thay đổi. Đó không còn là nước Nga đang lên cơn sốt thời nội chiến. Đó đã là nước Nga của các pharaon. Và nhân dân vừa xây kim tự tháp cho các pharaon vừa ca hát. (Có thể ngày xưa khi xây kim tự tháp nhân dân cũng hát chăng? Ai biết được!). Con người nhạy cảm Gorky tràn đầy cảm xúc. Ngập trong biển hân hoan của nhân dân, trong những cơn sóng tình yêu của đất nước mình, được vây quanh bởi đội cận vệ của những bạn bè chính trị, những thành viên chính phủ Stalin, được khen tụng và được sự quan tâm chú ý của chính Stalin và các đồng chí danh tiếng khác, được trở thành ngay khi còn sống vị thánh chinh phục thành phố quê hương mình – nó được đổi tên để kỷ niệm ông, được cất nhắc tự do lên vai trò người chính ủy đặc mệnh của nền văn hóa Liên Xô, Gorky đã chếnh choáng say trước vòng quay của cuộc sống xã hội cuốn hút ông: con người cá nhân chủ nghĩa trước đây đã ngụp lặn vào dòng. Thậm chí có thể nói rằng ông cảm thấy dễ chịu khi thoát được cuộc sống độc lập khổ sở của mình và khi trở thành người lính trong đạo quân vĩ đại của Cộng Đồng. Một khi đã tin thì ông không tranh cãi nữa; ông trở thành vị chỉ huy trưởng của công trường, ông chịu trách nhiệm về nó, ông khích lệ và bảo ban công nhân.


Nhưng ông không lừa được tôi: nụ cười mệt mỏi của ông nói lên rằng “kẻ vô chính phủ” trước đây không chết – ông vẫn luyến tiếc cuộc đời lang thang của mình. Hơn thế, ông hoài công tìm cách nhìn thấy trong sự nghiệp mà ông tham gia chỉ có sự vĩ đại, vẻ đẹp, tính nhân đạo (dù điều đó thực sự là lớn lao) – ông không muốn nhìn, nhưng ông thấy những sai lầm và đau khổ, thậm chí cả tính phi nhân của sự nghiệp đó. (Số phận của mọi cuộc cách mạng đều là thế). Và ông đau khổ, chạy trốn việc chứng kiến cảnh tượng ấy, đôi mắt sợ hãi cầu khẩn lòng khoan dung của những người buộc ông phải nhìn thẳng vào sự thật. Nhưng vô ích: những quang cảnh ảm đạm không bao giờ rời bỏ đáy sâu ý thức của một người như Gorky. Và đáy sâu ý thức của ông luôn luôn chứa đầy những nỗi đau và chủ nghĩa bi quan, dù ông không để lộ tình cảm của mình. Cũng như ông không để lộ những điều thâm tâm đang suy nghĩ. Cuộc sống của ông trôi qua trên bề mặt, chứ không phải dưới đáy sâu đại dương. Ông nói năng, cười đùa. Ông viết các tiểu thuyết mà không yêu các nhân vật của mình. Ông không chịu được sự cô đơn và chỉ cảm thấy hạnh phúc khi ở giữa bạn bè và thanh niên. Khi các đứa cháu đến chơi ông trở nên tươi tỉnh, vui vẻ. Thực chất ông là một con người yếu đuối, rất yếu đuối, mặc dù bên ngoài thì như một con gấu già và thường có những cơn giận bất thường. Gorky là người hiền hậu, dễ mến và dễ tin. Nếu như ông có tán thành những suy nghĩ và hành động dễ gây nên tình cảm căm tức, trả thù, hoặc giả thậm chí bản thân ông có làm những hành động đó và có những ý nghĩ đó, thì đấy cũng chỉ vì sự yếu đuối của riêng ông và vì ông không có khả năng kiềm chế được tính nhạy cảm quá mức của mình. Ông tự cho phép nhốt mình ở nhà riêng với một nhóm nhỏ bạn bè thân cận và phục tùng sự tận tụy quá mức của anh thư ký Kriusov, anh này đã thành công trong việc trung lập hóa ông. Bởi lẽ, mặc dù Kriusov có giúp đỡ được nhiều việc thật, nhưng tôi vẫn lấy làm tiếc phải thú nhận rằng vòng vây phong tỏa do anh ta tạo nên là đáng buồn. Kriusov là người duy nhất nắm giữ tất cả các mối quan hệ của Gorky với thế giới bên ngoài: thư từ, các cuộc đến thăm (đúng hơn, những đề nghị đến thăm Gorky) đều phải qua anh ta, chỉ một mình anh ta được quyền quyết định ai thì được, còn ai thì không được vào gặp Gorky (tiện đây nói thêm là Gorky không biết thứ ngoại ngữ nào nên hoàn toàn phải phụ thuộc vào người phiên dịch). Rồi trong thời gian tôi ở Moskva, Kriusov chuyển thư từ, ý kiến của tôi đến Stalin, Yagoda và những người khác, cũng như chuyển sự phúc đáp trở lại của họ, hết sức nhanh chóng! Rồi ý đồ không đúng chỗ của Kriusov bắt tôi đề tặng lên tấm ảnh cho Yagoda (bức ảnh này tất nhiên sẽ trở thành tài sản chung ngay!). Rồi sau khi tôi rời Moskva là sự im lặng đáng bực đáp lại tất cả các bức thư của tôi, nhất là đối với những yêu cầu cụ thể và khẩn cấp gửi đến Stalin - tất cả những sự kiện này buộc tôi phải nghĩ rằng anh ta có mối quan hệ bí mật với tổ chức Đảng trung ương. Không rơi vào cực đoan như các báo chí bạch vệ viết về Kriusov (điều này chính anh ta kể cho chúng tôi nghe), nhưng cần phải thừa nhận rằng Kriusov, người bạn chân thành của Gorky, người hết sức trung thành với ông, đã thu xếp cho ông theo sự xét đoán của mình và phù hợp với những chỉ thị của ban lãnh đạo Đảng. Hiển nhiên là anh ta cảm thấy những chỉ thị đó rất đúng đắn. Nhưng điều đáng bực là anh ta không để cho Gorky khả năng tự mình quyết định xem chúng thích hợp với ông đến mức nào. Và sự giám hộ này càng đáng bực hơn do chỗ Kriusov là một người hết sức hạn chế, cuồng tín, và quyết đoán (đặc biệt khi nói về văn học nghệ thuật tôi không nghe thấy ở anh ta một nhận xét tích cực nào về bất kỳ ai. Trong buổi tiếp các nhà văn – mà trách nhiệm có lẽ là Gorky cùng với tôi phải chịu – anh ta thực hiện vai trò một chủ nhà mến khách thật khó khăn. Anh ta luôn luôn không hài lòng: có lẽ là vì phải đóng một vai không xuôi). Kriusov đã nỗ lực không ít để tách Gorky ra xa bạn bè cầm bút và độc giả. Phải là người yếu đuối như Gorky thì mới chịu được sự giám hộ và sự kiểm tra từng phút một như vậy. Chúng giải thoát cho ông khỏi nhiều mối bận tâm, nhưng là bằng giá nào? Một cái vòng khóa môi con gấu già.


Con gấu già bất hạnh quàng nguyệt quế và khoác đầy mình những sự tôn kính, nhưng thâm tâm thờ ơ với tất cả những thứ lợi lộc đó, những thứ mà ông dám đánh đổi để lấy lại sự độc lập của kẻ lang thang ngày trước, trái tim ông mang một nỗi đau khổ, hoài niệm và tiếc nuối rất nặng nề; ông cố dập tắt tâm trạng bi quan cố hữu của mình bằng tinh thần say sưa cuồng nhiệt và lòng tin tưởng của quần chúng vây quanh đang lôi kéo ông theo, mà lẽ ra như mọi người nghĩ là ông phải lôi kéo họ! Tôi rất yêu ông, và tôi thấy thương ông. Ông rất cô độc, dù hầu như không bao giờ ở một mình! Tôi cảm thấy rằng nếu như chỉ có hai chúng tôi với nhau (và hàng rào ngôn ngữ bị xóa bỏ) thì ông sẽ ôm lấy tôi và im lặng nức nở hồi lâu. 
(Ông hãy tha lỗi cho tôi, nếu như tôi nhầm!)


Tôi không nói ở đây về những điều mà ai cũng biết: về vai trò trọng đại và nặng nề của ông với tư cách giám thị trưởng (không có chân dung, nhưng không vì thế mà kém phần quyền uy) của văn học, khoa học và nghệ thuật, của giáo dục, xuất bản. Ông là người lãnh đạo và người kiểm duyệt văn hóa nói chung. Không một nhà văn nào có quyền lực như vậy, và Gorky đã chấp nhận nó. Trong các cuộc nghi lễ xã hội, vị trí của ông ngang hàng với các thành viên chính phủ. Ông là một trong những người hàng đầu ở nhà nước Xôviết. Địa vị cao này cùng những bổn phận gắn với nó đã quy định cuộc sống của ông. Con người xã hội lấn át con người riêng tư.


Dịch từ bản tiếng Nga, tạp chí Voprosy Literatury, 5/1989.

nguồn: talawas.org.

 

 
NHÌN LẰN RANH GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH QUA “SẮC, GIỚI” PDF. In Email
Thứ năm, 22 Tháng 12 2011 23:25

TS. Phan Thu Vân

 

“Sắc, giới” được Trương Ái Linh sáng tác trong gần ba mươi năm, toàn bộ tâm tư tình cảm dồn nén chỉ trong khoảng vài chục trang giấy, hơn 13.000 chữ. Ra đời năm 1978, ba mươi năm sau, tác phẩm này lọt vào mắt xanh của đạo diễn Trung Quốc từng đoạt giải Oscar – Lý An, trở thành một trong những tác phẩm điện ảnh nhiều tranh cãi nhất tại Trung Quốc trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI. Đây là một hiện tượng khá thú vị cho những ai muốn tìm hiểu về mối tương quan cũng như ranh giới giữa văn học và điện ảnh.

Đọc thêm...
 
CÁCH TÂN PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ TIỂU THUYẾT CỦA NATHALIE KUPERMAN PDF. In Email
Thứ hai, 19 Tháng 12 2011 23:23

Phùng Văn Tửu

Tôi quan tâm đến cuốn tiểu thuyết Chúng tôi đã từng sống  mới xuất bản cách đây một năm của Nathalie Kuperman. Bà là văn sĩ Pháp sinh năm 1963, sống và làm việc ở Paris, tác giả của các tiểu thuyết Sự bất trắc (Le Contretemps, 1993), Phố Jean-Dolent (Rue Jean-Dolent, 2000), Em thấy tôi thế nào? (Tu me trouves comment?, 2001), Tôi đã đuổi Marta (J’ai renvoyé Marta, 2005),  Ăn sáng với Mick Jagger (Petit déjeuner avec Mick Jagger, 2008)…

Đọc thêm...
 



THÔNG TIN HOẠT ĐỘNG

TỌA ĐÀM "SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC"

14 giờ chiều ngày 22/04/2015, tại văn phòng khoa Ngữ văn đã diễn ra buổi tọa đàm "Sinh viên nghiên cứu khoa học". Tại buổi tọa đàm, các sinh viên tham gia đề...

GIAO LƯU-TỌA ĐÀM: MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH

Ngày 04/12/2014, Tổ Lý luận văn học Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM đã tổ chức buổi giao lưu cùng NSND, đạo diễn Đào Bá Sơn với chủ đề...
 

VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT

VĂN HÓA NGHỆ THUẬT: Nhà văn người Canada,82 tuổi: Alice Munro đạt giải Nobel Văn học 2013

  Alice Ann Munro (1931-)   Chia sẻ trên Tập đoàn Truyền thông Canada: “Tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ đoạt giải. Tôi thực sự ngạc nhiên và không thể...

VĂN HÓA NGHỆ THUẬT: Hội Nhà văn Hà Nội vinh danh thể loại phi hư cấu (My Ly)

Ngày 3/10, Hội Nhà văn Hà Nội họp và công bố các giải thưởng năm 2013 của hội. Giải sẽ được trao vào ngày 10/10. Năm nay, giải thưởng trao cho những...
 

 BÀI MỚI NHẤT 

 TIN KHOA HỌC  

  • Giáo sư Trần Đình Sử     Chiều 23.10.2012, lúc 14.30, tại phòng họp C,...

    Đọc thêm...

  • VIỆN VĂN HỌC THƯ MỜI Tham dự buổi nói chuyện chuyên đề “Mấy vấn đề...

    Đọc thêm...

 ĐIỂM BÁO - TẠP CHÍ  

  • NHỮNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ HỌC TRÊN TẠP CHÍ NGÔN NGỮ NĂM 2011   Với 103...

    Đọc thêm...

 SÁNG TÁC 

Trên đường Nguyễn Du

duongnd Đi trên đường Nguyễn Du Tháng giao mùa lá me xanh màu ngọc Ta nhớ nàng Kiều chải tóc đếm thời gian Ta nhớ tình Kiều bỗng chốc dở dang Con tim tan vỡ… Phím đàn xưa réo rắt Và ta nhớ nàng Kiều: đôi mắt Xanh nước hồ thu Xanh màu lá Nguyễn Du Nguyễn Thị Anh...