Vietnamese-VNFrench (Fr)简体中文English (United Kingdom)

Khoa Ngữ Văn
  
Trang chủ NGÔN NGỮ HỌC
ngôn ngữ học
HỌC LIỆU: Lời nói đầu bản dịch Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương (phần 3) • Cao Xuân Hạo PDF. In Email
Thứ tư, 14 Tháng 11 2012 14:38

 

Cuối cùng, cũng cần nói về một trường hợp mà Saussure trực tiếp phản lại những nguyên lí do chính ông nói lên một cách dứt khoát và hoàn toàn hiển ngôn.

Đó là trong khi nhấn mạnh rằng “ngôn ngữ là một hình thức chứ không phải là một chất liệu”, ông lại coi “Nguyên lí Tuyến tính của Năng biểu” như một trong hai nguyên lí cơ bản chi phối toàn bộ cơ chế của dấu hiệu ngôn ngữ (nguyên lí thứ hai là tính võ đoán của dấu hiệu ngôn ngữ).

Saussure chủ trương rằng dòng ngữ lưu phải được cắt ra từng khúc ta mới phân tích ra được các đơn vị ngôn ngữ học. Trong những đoạn ghi chép của sinh viên, ta thấy có những câu như: “Tuyến âm thanh phải được cắt ra như cắt bằng kéo. Chính nhờ đó mà các đơn vị ngôn ngữ được khẳng định: kích thước ngôn ngữ chỉ có thể đo trên một chiều duy nhất [đó là chiều dài thời gian], vì những sự khu biệt về chất chỉ có thể được thể hiện lần lượt, cái trước cái sau mà thôi... Tất cả chỉ trải dài trên một tuyến, cũng giống như trong âm nhạc vậy”(12).

Không thể tưởng tượng ra một nhận định nào mâu thuẫn một cách chối chang với tinh thần của chính tác giả đến như vậy. Ngay các nhà âm nhạc học cũng đã thấy rõ rằng chiều thời gian chỉ là một cái khung chất liệu cho âm nhạc mà thôi, vì tuy âm nhạc chính là “sự khải thị của thời gian”, song trên bình diện mĩ học, âm nhạc lệ thuộc rất nhiều vào cấu trúc của chính nó, và một giai điệu không thể coi như chỉ là một chuỗi âm thanh kế tiếp trong thời gian, vì “âm thanh tồn tại đồng thời với kỉ niệm của nó, và kỉ niệm của một âm thanh vẫn còn là một âm thanh(13).

Mối mâu thuẫn nội tại hiển nhiên này trong cuốn Giáo trìnhđã làm cho E. Buyssens kinh ngạc khi nhận thấy chính Saussure “lẫn lộn ngôn ngữ với lời nói”(14), và R. Jakobson phải nhận xét rằng Saussure: thừa hưởng y nguyên thái độ phủ định của phái Tân ngữ pháp đối với trục đồng thời (l’axe de la simultanéité), coi “tuyến tính của năng biểu” như một định đề. Việc tìm lối biện minh cho “nguyên lí cơ bản” này bằng cách nói rằng hai âm vị không thể xuất hiện đồng thời là một lối biện luận luẩn quẩn, vì đó lại chính là nguyên văn cách định nghĩa âm vị(15).

Dĩ nhiên Saussure, dù muốn dù không, cũng phải thừa nhận rằng trục kết hợp (axe syntagmatique) không phải chỉ có những mối quan hệ tuyến tính (cái trước cái sau). Giữa một hình vị được thể hiện bằng một nguyên âm và một hình vị được thể hiện bằng một sự chuyển biến âm sắc (umlaut), giữa một câu và một ngữ điệu, sự kết hợp đều có tính đồng thời. Trục kết hợp là trục của những quan hệ in praesentia. Nó không hề bao gồm trật tự kế tiếp trong thời gian như một điều kiện tiên quyết.

Sự thiếu nhất quán này đã đưa đến những sự ngộ nhận thô thiển đến cùng cực. Thậm chí ở nước ta còn có những tác giả gọi trục kết hợp là “trục tuyến tính”, làm như thể trong ngôn ngữ chỉ có thể có sự kết hợptheo trật tự thời gian mà thôi.

Nhưng tác hại lớn nhất của sự ngộ nhận của Saussure chính là trong lĩnh vực âm vị học, nơi mà tuyến tính luậnđể lộ bộ mặt khó coi nhất của nó dưới dạng chiết đoạn luận (segmentalism), khiến cho ngành học này, ngành được coi là tiên tiến nhất và đáng tự hào nhất của ngôn ngữ học và của cả các khoa học nhân văn nói chung nữa, trở thành điển hình của chủ nghĩa chất liệu mà Sassure vốn coi là chướng ngại vật lớn nhất trên con đường tìm hiểu bản chất của ngôn ngữ. Với nguyên lí tuyến tính của năng biểu, Saussure đã mở rộng cửa cho chiết đoạn luận và biến ngành âm vị học thành một lí thuyết có tác dụng gò mô hình âm vị học của tất cả các ngôn ngữ của nhân loại thành những bản sao nguyên vẹn của loại hình âm vị học chiết đoạn luận Âu châu, trong đó một âm vị chỉ có thể là một âm tố đoạn tính (segmental speech sound), cái đơn vị không có chút tính hiện thực nào mà họ đã quá quen viết bằng một chữ cái(16).

Là những người có diễm phúc thừa hưởng một di sản vô giá do Ferdinand de Saussure để lại, các thế hệ đi sau phải hiểu hết ý nghĩa của nó, nhất là biết cách nắn lại những chỗ thiếu nhất quán mà người Thầy, trong khi vất vả dò lối đi trên một con đường gần như không có vết chân người, đã có lúc vấp váp và phản lại chính lời dạy của mình. Bổn phận của các thế hệ đi sau đối với Thầy xưa nay đều phải như thế.

Sau rốt, không thể không nhắc đến một điểm mà không phải không có người coi là một khiếm khuyết đáng trách cứ của Saussure. Đó là việc ông chỉ quan tâm đến ngôn ngữ (la langue) mà không nói gì về lời nói (la parole). Việc này chính Saussure chủ trương một cách hiển ngôn. Đối với ông, đối tượng chủ yếu của ngôn ngữ học là Ngôn ngữ, nhưng ông cũng hình dung được trong tương lai một ngành ngôn ngữ học của lời nói. Dù sao ông quan niệm cái đối tượng này một cách không hẳn là chính xác, vì ông có thiên hướng cói đó như một hiện tượng thuộc lĩnh vực của từng cá nhân, chứ không thấy đó cũng chính là một thiết chế xã hội hoạt động trong sự giao tiếp và tương tác giữa người với người, và cũng sử dụng chính cái hệ thống dấu hiệu cấu trúc hoá mà ông cũng gọi là “ngôn ngữ” như mọi người. Cũng có thể ông chưa có thì giờ làm hay chưa muốn làm chính vì hình dung được cái tính đa dạng hầu như vô cùng tận của nó. Dù sao, đến những năm đầu thập kỉ 1960, “ngôn ngữ học của lời nói” dưới nhãn hiệu dụng pháp ngôn ngữ (linguistic pragmatics) hay “ngữ dụng học”(17) cũng đã ra đời với cuốn sách đọc đáo của J.L. Austin và Lí thuyết Hành động ngôn từ (hay hành động bằng lời – Speech act Theory) của ông; chỉ tiếc là ở nước ta không ít người tưởng đâu đó là một thứ khoa học khác, dành cho những người không ưa ngôn ngữ muốn giải nghệ để chuyển sang một khoa học hoàn toàn mới và hoàn toàn độc lập, có thể miễn cho họ cả quá trình học ngôn ngữ học chính danh với những môn phiền phức như ngữ pháp, ngữ âm, ngữ nghĩa mà họ thấy quá vô bổ và vô vị, khô khan và rắc rối, và nhất là tốn quá nhiều công sức quý giá của người học. Thật ra, muốn hiểu dụng pháp ngôn ngữ không thể nào không học thật kĩ lí thuyết ngôn ngữ học “của ngôn ngữ” do F. de Saussure sáng lập./.

________________

(12) Cf. R. Godel. Les sources manuscrites du Cours de Linguistique générale de F. de Saussure. Genève 1957, p.311. Tuy vậy, trong một văn bản khác do chính tay Saussure viết, ta lại đọc thấy: Trong ngôn ngữ, yếu tố và đặc trưng chỉ là một [...:] không thể có sự phân biệt nào giữa cái gì làm nên đặc trưng của một đơn vị và cái gì cấu tạo nên đơn vị ấy. (Aphorisme XII. Notes inédites. Cahiers Ferdinand de Saussure 13, 49-71, 1954. Câu “cách ngôn” này trực tiếp cải chính nhận định của L. Hlemslev khi ông chủ trương khu biệt chức năng biểu trình (exposant) với chức năng cấu thành (constituant) vốn là cơ sở của sự phân biệt giữa tính “chiết đoạn” và tính “siêu đoạn” sau này.

(13) Cf. Gisèle Brelet. Le temps musical. P.U.F. Paris 1949, p.486. Xt. Cao Xuân Hạo 1985, sđd, p.274, có trích đăng trong Cao Xuân Hạo 1989, Tiếng Việt: Mấy vấn đề ngữ âm – ngữ pháp – ngữ nghĩa, p. 46ss.

(14) E. Buyssens. Les six linguistiques de F. de Saussure. Revue des langues vivantes, N0 1, p.15-23.

(15) R. Jakobson. Essais de linguistique générale. Paris 1962, p.105ss.

(16) Tuy vậy, chính Saussure là người đầu tiên, và cho đến nay vẫn là người duy nhất ở phương Tây, đã từng băn khoăn về vấn đề tính đồng nhất giữa các phụ âm và bán nguyên âm nổ ra (explosives) với các phụ âm và bán nguyên âm bập vào (implosives) (x. Giáo trình, tr. 94-112) – một tính đồng nhất mà ngoài Saussure ra tất cả các tác giả người châu Âu đều coi là hoàn toàn đương nhiên trong tất cả các ngôn ngữ của nhân loại, nên không bao giờ thấy cần chứng minh gì bằng bất cứ biện pháp âm vị học nào. Lệ ngoại duy nhất mà tôi được biết là Cheng R.L., Phonological Units and the Japanese Syllabary. Lisse 1975 (cũng xin lưu ý rằng Cheng là người gốc Hán). Xt. Cao Xuân Hạo 1985, Sđd, trong đó có chứng minh rằng trong tiếng Việt, sự khác nhau giữa một phụ âm đầu (<) như t của ta và phụ âm cuối (>) như t của át trong âm tiết tiếng Việt làm thành một thế đối lập âm vị học quan yếu, và lẽ ra phải được phiên âm bằng hai kí tự hoàn toàn khác nhau.

nguồn: ngonngu.net

 
HỌC LIỆU: Lời nói đầu bản dịch Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương (phần 2) • Cao Xuân Hạo PDF. In Email
Thứ hai, 29 Tháng 10 2012 20:04

 

Saussure không phải là người duy nhất tạo ra một hình hệ (paradigm) mới của thời đại cho khoa học nhân văn. Cùng với ông còn có nhà logic học tri thức luận A. Naville, các nhà xã hội học A. Durkheim, nhà phân tâm học S. Freud, Trường Gestaltpsychologie của thành Viên, phái nhân học cấu trúc luận của C. Lévy-Strauss, đại diện cho những trào lưu ít nhiều có liên quan đến việc đặt lại vấn đề đối tượng loại biệt của khoa học nhân văn, đến nhãn quan chống nguyên tử luận và khách quan chủ nghĩa cơ giới, trong đó có cả những khuynh hướng thực chứng luận như trong ngôn ngữ học hành vi luận của những năm 30–40.

Cái hình ảnh ẩn dụ ví ngôn ngữ với bàn cờ cũng gây nên những ngộ nhận khiến nhiều độc giả hiểu không đúng lí thuyết ngôn ngữ học của Saussure. Saussure quan niệm rằng người bản ngữ, cũng giống như người ghé vào xem một ván cờ đang đánh dở, hoàn toàn không biết trước đó hai người đang đánh cờ đã đi những nước gì. Và anh ta tuyệt nhiên không cần biết, vì mọi sự đều có mặt trên bàn cờ lúc anh ta đến. Nếu là người biết đánh cờ, anh ta hoàn toàn hiểu tình hình hiện tại của thế cờ. Nếu là người cao cờ, anh ta còn nghĩ ra được những nước đi còn hay hơn cả người đã đánh từ đầu ván. Cái quan trọng không phải là những nước cờ đã đi. Cái quan trọng là những mối quan hệ giữa các quân cờ đang ở cái thế hiện tại.

Đọc thêm...
 
HỌC LIỆU: Lời nói đầu bản dịch Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương (phần 1) • Cao Xuân Hạo PDF. In Email
Thứ hai, 29 Tháng 10 2012 09:56

 

Ngôn ngữ học đồng đại chỉ chấp nhận một quan điểm duy nhất: quan điểm của người bản ngữ.
— Ferdinand de Saussure

Nhà ngôn ngữ học Thuỵ Sĩ Ferdinand de Saussure, mà giới ngôn ngữ học châu Âu thường gọi là người cha đẻ của ngôn ngữ học hiện đại , hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu sáng chói này, mặc dầu cũng có những người thấy cần phê phán một số điểm mà họ cho là “thiếu sót”, hay “phiến diện”, hay “duy tâm”.

Dù sao ông cũng là người đầu tiên làm cho ngôn ngữ học trở thành một khoa học thực sự nhờ có được một đối tượng minh xác và một phương pháp luận hiển ngôn. Ông cũng là một trong những người đi tiên phong trong việc xây dựng những nguyên lí cơ bản của cái trào lưu đã cải tạo hoàn toàn cách tiếp cận những đối tượng khảo sát của các khoa học nhân văn: trào lưu cấu trúc luận (structuralism) mà không hiểu tại sao có những người sính thời thượng thấy có thể coi như một hình hệ (paradigm) đã qua(1) cần có thêm một cuộc cách mạng thứ hai do những cách tiếp cận của chính họ thực hiện, mặc dầu những cách tiếp cận tương tự như thế đã ra đời từ ba bốn thế kỉ trước, và trong các phát minh của họ không có lấy một điểm nào phủ nhận giá trị của cấu trúc luận ngôn ngữ học – cái giá trị đã dẫn tới những thành tựu quan trọng trong khắp các ngành khoa học nhân văn.

Trong suốt cả thế kỉ qua, người ta đã viết về Saussure hàng ngàn trang sách, và viết khá kĩ về tất cả những luận điểm độc đáo quan trọng nhất của ông, nhất là về những thế lương phân trứ danh như “năng biểu / sở biểu”, “tính có nguyên do / tính võ đoán” của mối quan hệ này, “ngôn ngữ / lời nói”, “đồng đại / lịch đại”, “trục kết hợp / trục liên tưởng”, “chất liệu / hình thức”, “ngữ trạng / chuyển biến”, v.v. Nhưng hình như chưa có một công trình nào trình bày một cách thật hiển ngôn mối quan hệ logic giữa các thế lưỡng phân này, trong khi đó là một quan hệ nhân quả trực tiếp, gần như cơ giới, hoàn toàn tất yếu, mà lẽ ra phải đập mạnh vào mắt mọi người ngay từ khi đọc lướt qua cuốn Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương.

Hầu hết các tác giả đều lần lượt trình bày đầy đủ từng luận điểm của Saussure, mỗi người theo một trình tự khác nhau, như thể trình bày một danh sách liệt kê tài sản trong đó mỗi vật thuộc về một chủng loại khác nhau.

Thật đáng tiếc là Saussure không nói đủ rõ về mối dây liên hệ logic ấy, sao cho sinh viên của ông có đủ sức chú ý để ghi lại nó một cách hiển ngôn bằng một số lượng câu đoạn xứng đáng với tầm quan trọng của nó. Câu văn hiển ngôn duy nhất mà ta còn có được trong Giáo trình là câu mà chúng tôi làm đề từ trên đây. Có lẽ nó chứa tư tưởng chủ đạo đã làm nảy sinh ra cuộc cách mạng không tiền khoáng hậu của Saussure.

Vậy mối quan hệ đó ra sao? Nó xuất phát từ ý tưởng nào? Nó kéo theo những nhận định nào? Nó cho phép suy diễn thêm những hệ quả nào? Đó là những câu hỏi mà người đọc và học cuốn Giáo trình không thể không đặt ra nếu muốn hiểu thấu đáo nội dung của nó, cũng như hiểu giá trị của những lời khen ngợi và những lời chê bai thuộc đủ mọi phương diện mà người ta đã dùng khi nói về nó.

Trước hết phải nói đến cách định nghĩa ngôn ngữ của Saussure, cội nguồn của mọi luận điểm được trình bày trong cuốn Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương mà ba nhà ngữ học Thuỵ Sĩ Charles Bally, Albert Sechehaye và Albert Riedlinger, với một lòng sùng mộ vô biên, đã cố viết lại cho đúng ý của người Thầy quá cố(2) bằng cách căn cứ vào những cuốn vở ghi chép của các sinh viên được trực tiếp học ông(3).

Đó là cách dùng định nghĩa được trình bày rải rác trong quá trình đối chiếu và tranh luận với những quan điểm do quá khứ để lại, nghĩa là chưa bao giờ được thiết lập thành một công thức để có thể dẫn nguyên văn, nhưng vẫn đủ rõ để có thể suy ra một cách gián tiếp, mà hoàn toàn chắc chắn, từ tất cả những đoạn văn có mặt trong cuốn Giáo trình :

Ngôn ngữ là một hệ thống dấu hiệu nhiều tầng được người bản ngữ chấp nhận, ghi nhớ, hiểu và sử dụng trong khi giao tiếp với cộng đồng.

Ở đây có ba từ có vai trò quyết định trong toàn bộ lí thuyết của Saussure: dấu hiệu (signe) , hệ thống (système)người bản ngữ (le sujet parlant) (4).

Về khái niệm “dấu hiệu”, ta đã có một định nghĩa được thừa hưởng từ thời Trung thế kỉ của các nhà Kinh viện (các tu sĩ công giáo, vốn là tầng lớp duy nhất có học thức ở thời đại ấy); đó là aliquid stat pro aliquo (dấu hiệu là một cái đứng thay ( hay đại diện) cho một cái gì khác. Dĩ nhiên, các tu sĩ thời ấy, tuy hiểu đúng nghĩa từ dấu hiệu (signe), và cũng có thể hiểu rằng ngôn ngữ là một thứ dấu hiệu, nhưng đã không thể rút từ đấy ra những điều trọng yếu mà Saussure dùng để xây dựng lí thuyết ngôn ngữ học của mình.

Ngay khi xây dựng định nghĩa của ngôn ngữ, Saussure cũng đồng thời nêu rõ cái điều kiện sine qua non (không có không xong) của cái thực thể kì lạ ấy: Ngôn ngữ chỉ là dấu hiệu đối với người bản ngữ – người hiểu nó và dùng nó – mà thôi, chứ ngoài ra, nó không còn là dấu hiệu đối với ai, đối với cái gì hết. Nói cách khác, nó chỉ là dấu hiệu đối với một chủ thể riêng biệt – cộng đồng của những con người hiểu và dùng nó. Nếu không có cái cộng đồng này, ngay đến cả sự tồn tại khách quan của nó trên cõi đời cũng không còn nữa.

Và đó chính là một đặc trưng kéo theo cả một loạt hệ quả khiến cho ngôn ngữ trở thành một hệ thống khác hẳn những hệ thống gồm những sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển một cách tự nhiên trong vũ trụ. Cũng như những sự kiện nhân văn khác, ngôn ngữ chỉ tồn tại nhờ chủ thể của nó.

Nếu đối với các khoa học tự nhiên, đối tượng (hiểu như những vật cụ thể) vốn đã có sẵn trong vũ trụ, và thường thường khoa học chỉ còn phải tìm cho ra những phương pháp miêu tả thật chính xác tất cả những chân lí đã có sẵn ấy, thì đối với một hệ thống dấu hiệu như ngôn ngữ, đối tượng chỉ bắt đầu nảy sinh khi có người bản ngữ với cái quan điểm hoàn toàn chủ quan của họ.

Nếu các khoa học tự nhiên cố tìm cho ra những phương pháp nghiêm ngặt nhất để phản ánh cho thật trung thành sự thật khách quan, và khắc phục, loại trừ cho hết những ảo giác do quan điểm chủ quan đem lại, thì các khoa học nhân văn như ngôn ngữ học lại cần có những phương pháp thật nghiêm ngặt để tìm xem người bản ngữ cảm nhận các sự kiện ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa như thế nào bằng cách bỏ qua, hay ít nhất là khắc phục những dữ liệu vật chất như hình thể, âm thanh, và cả không gian và thời gian nữa, vốn là những sự kiện khách quan. Vì nếu không, sẽ không sao phát hiện và xác định được sự thật trong ngôn ngữ. Ở đây, chính cái mà sinh lí học thị giác và thính giác gọi là ảo giác hay ảo ảnh mới chính là sự thật khách quan mà người bản ngữ trực tiếp cảm nhận và người làm ngôn ngữ học phải ra sức phát hiện. Xin đừng hiểu lầm rằng ngôn ngữ học và các khoa học nhân văn khác là những “khoa học chủ quan”. Khoa học, do chính định nghĩa của nó, chỉ có thể là khách quan. Đối tượng khảo sát của nó bao giờ cũng chỉ có thể là chân lí khách quan, độc lập đối với ý thức chủ quan của con người. Nhưng trong khoa học nhân văn, cái chân lí khách quan ấy chỉ có thể đạt tới khi người ta biết đứng trên quan điểm của con người sống trong (và bằng) cách cảm nhận chủ quan của nó.

Và đó chính là sự phát hiện vĩ đại nhất của những con người như Saussure, đã cải tạo hoàn toàn khoa học ngôn ngữ trong thời đại ta. Và đó cũng là cực cấp trầm trọng của sự ngộ nhận khi người ta phê phán ông là duy tâm vì ông nói rằng “ở đây chính quan điểm tạo ra đối tượng”. Ngày nay, không còn một người nào, dù là duy tâm hay duy vật, lại không thừa nhận rằng câu nói này của Saussure không những hoàn toàn đúng đối với ngôn ngữ học, mà còn hoàn toàn đúng đối với bất kì khoa học nào mà đối tượng khảo sát phải được phát hiện thông qua một thao tác trừu xuất thực sự nhằm gạt ra khỏi tầm quan sát những sự kiện vật chất “khách quan” không có tác dụng đối với nhận thức của con người (chẳng hạn như không có chức năng làm thay đổi nghĩa của từ ngữ hay của câu nói, và do đó không lọt được vào tầm tri giác của người bản ngữ).

________________

(1) Một số tác giả gọi ngôn ngữ học trước 1957 là “structuralist”, làm như thế bản thân họ không còn coi ngôn ngữ là một hệ thống được cấu trúc hoá – où tout se tient – nữa, mặc dầu họ sử dụng y nguyên tất cả những khái niệm và những phương pháp của ngữ học cấu trúc (trong đó có cả những “thế lưỡng phân” của Saussure được hoá trang lại ít nhiều), và những cái mới mà họ đem lại, như các thủ pháp cải biến – trong đó các “danh ngữ hoá các câu (sentences) ở cấu trúc sâu” chẳng hạn, mà cho đến nay vẫn chưa thể biết rõ là phải trả giá đắt đên chừng nào. Hình như trong khi nói đến “structuralism”, các tác giả này nghĩ quá nhiều đến những quan điểm chẳng mấy liên quan đến cấu trúc luận của ngôn ngữ học miêu tả, như quan điểm vật lí luận, quan điểm thực chứng luận, quan điểm hành vi luận, quan điểm bỏ qua mặt ngữ nghĩa của ngôn ngữ, là những quan điểm mà họ cực lực phê phán (một cách hoàn toàn chính đáng), rồi từ đó sổ toẹt luôn cả những nhân tố tích cực của cấu trúc luận do Saussure đề xướng (cuốn Giáo trình của Saussure mãi đến thập kỉ 70 mới được dịch ra tiếng Anh).

(2) F. de Saussure (1871–1913), mất ngày 22 tháng 02 năm 1913, tức ba năm trước khi cuốn Giáo trình xuất bản lần đầu (1916).

(3) Cần nói rõ rằng các ý nguyện chân thành này của họ không hẳn đã được hiện thực hoá hoàn toàn. Về sau, một số tác giả đã lần lượt nêu lên những mệnh đề không phản ánh thật chính xác những ý tưởng của Saussure, và mãi về sau này nữa lại có những bản ghi chép khác giúp một số tác giả khác bổ sung và chỉnh lí thêm các tài liệu cũ. Tuy vậy, công trình của ba tác giả Thuỵ Sĩ nói trên, kể cho đến nay, dù sao cũng đã trở thành một cuốn sách kinh điển mà mọi người đã quen coi là văn bản gốc, nghĩa là tạm tin rằng ít nhất nó cũng phản ánh được những ý tưởng chủ đạo của Saussure. Cho nên, nói cho cùng, nguyên bản cuốn Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương vẫn là một căn cứ đáng tin cậy để tìm hiểu học thuyết của F. de Saussure.

(4) Thuật ngữ này, mà nếu dịch thật sát sẽ là “chủ thể nói năng”, hiện nay ngay ở Pháp cũng không có mấy ai dùng: Nó đã được thay thế bằng thuật ngữ le locuteur natif , được cấu tạo hoàn toàn đúng với mô hình của tiếng Anh (the native speaker ), khiến cho từ chủ thể khong còn có mặt nữa, và đó là một điều mà chúng tôi cho là đáng tiếc, vì khái niệm này đặc biệt quan trọng trong những cách định nghĩa tương ứng của các ngành khoa học nhân văn khác.

nguồn: ngonngu.net

 
Bàn về vấn đề "Phân loại câu theo mục đích phát ngôn" PDF. In Email
Thứ năm, 06 Tháng 1 2011 16:11

Bàn về vấn đề "Phân loại câu theo mục đích phát ngôn"

PGS.TS.Bùi Mạnh Hùng

 

1. Để thực hiện một mục đích phát ngôn, người ta thường dùng một cấu trúc cú pháp đặc trưng với những phương tiện ngôn ngữ riêng biệt như: tiểu từ, phụ từ, phụ tố, trật tự từ, ngữ điệu, hiện tượng tỉnh lược, v.v. Nghĩa là có một mối tương quan khá đều đặn giữa hình thức của câu và mục đích sử dụng nó. Từ đó hình thành nên khái niệm kiểu câu (sentence type) và những kiểu câu thông dụng nhất thường được nhắc đến là: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán (x. J. Sadock & A. Zwicky 1990: 155-156).

Tuy nhiên, cũng như mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của kí hiệu ngôn ngữ nói chung, mối quan hệ giữa hình thức của câu với ý nghĩa và mục đích sử dụng của nó không phải là quan hệ một đối một. Trong ngôn ngữ nào cũng có hiện tượng một hình thức câu được sử dụng nhằm thực hiện nhiều mục đích phát ngôn khác nhau và một mục đích phát ngôn có thể được thực hiện thông qua nhiều hình thức câu khác nhau. Có những trường hợp việc sử dụng một hình thức câu nào đó lại nhằm thực hiện một mục đích phát ngôn vốn thường được thực hiện thông qua một hình thức câu khác. Vì vậy nảy sinh vấn đề: Căn cứ vào đâu để phân loại các kiểu câu? Có 2 cách tiếp cận thường gặp.

Đọc thêm...
 



THÔNG TIN HOẠT ĐỘNG

TỌA ĐÀM "SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC"

14 giờ chiều ngày 22/04/2015, tại văn phòng khoa Ngữ văn đã diễn ra buổi tọa đàm "Sinh viên nghiên cứu khoa học". Tại buổi tọa đàm, các sinh viên tham gia đề...

GIAO LƯU-TỌA ĐÀM: MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH

Ngày 04/12/2014, Tổ Lý luận văn học Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM đã tổ chức buổi giao lưu cùng NSND, đạo diễn Đào Bá Sơn với chủ đề...
 

VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT

VĂN HÓA NGHỆ THUẬT: Nhà văn người Canada,82 tuổi: Alice Munro đạt giải Nobel Văn học 2013

  Alice Ann Munro (1931-)   Chia sẻ trên Tập đoàn Truyền thông Canada: “Tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ đoạt giải. Tôi thực sự ngạc nhiên và không thể...

VĂN HÓA NGHỆ THUẬT: Hội Nhà văn Hà Nội vinh danh thể loại phi hư cấu (My Ly)

Ngày 3/10, Hội Nhà văn Hà Nội họp và công bố các giải thưởng năm 2013 của hội. Giải sẽ được trao vào ngày 10/10. Năm nay, giải thưởng trao cho những...
 

 BÀI MỚI NHẤT 

 TIN KHOA HỌC  

  • Giáo sư Trần Đình Sử     Chiều 23.10.2012, lúc 14.30, tại phòng họp C,...

    Đọc thêm...

  • VIỆN VĂN HỌC THƯ MỜI Tham dự buổi nói chuyện chuyên đề “Mấy vấn đề...

    Đọc thêm...

 ĐIỂM BÁO - TẠP CHÍ  

  • NHỮNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ HỌC TRÊN TẠP CHÍ NGÔN NGỮ NĂM 2011   Với 103...

    Đọc thêm...

 SÁNG TÁC 

Trên đường Nguyễn Du

duongnd Đi trên đường Nguyễn Du Tháng giao mùa lá me xanh màu ngọc Ta nhớ nàng Kiều chải tóc đếm thời gian Ta nhớ tình Kiều bỗng chốc dở dang Con tim tan vỡ… Phím đàn xưa réo rắt Và ta nhớ nàng Kiều: đôi mắt Xanh nước hồ thu Xanh màu lá Nguyễn Du Nguyễn Thị Anh...